Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Du lịch tâm linh ở Bà Nà

Vào những ngày đầu năm mới, người Việt thường tìm đến những ngôi chùa linh thiêng để cảm tạ ơn trên đã mang lại yên bình cho bản thân, gia đình, cầu mong một năm mới an lành, hạnh phúc. Năm nay, du khách sẽ có thêm một lựa chọn cho chuyến hành trình đầu xuân của mình tại Khu du lịch tâm linh Bà Nà Hills.

Bà Nà Hills vốn nổi tiếng với hệ thống cáp treo đạt nhiều kỷ lục thế giới, cùng nhiều khu vui chơi giải trí và nghỉ dưỡng đặc sắc… Đặc biệt, vào đầu năm mới giáp Ngọ 2014 này, Tập đoàn Sun Group (chủ đầu tư Khu du lịch Bà Nà Hills) đã hoàn thiện và đưa vào khai thác Khu du lịch tâm linh là nơi thu hút hấp dẫn, thú vị đối với phật tử thập phương cũng như du khách trong và ngoài nước.

Từ chân núi, cáp treo số 3 sẽ đưa bạn lên thẳng đỉnh Bà Nà, đến với ngôi đền Lĩnh Chúa Linh Từ - còn được gọi là đền Bà Chúa Thượng Ngàn, để du khách có thể trải lòng mình trong khung cảnh thanh tịnh và chiêm bái, cầu bình an, may mắn cho cả gia đình.

Chót vót xa trông mây lớp mây,
Bà Nà núi Chúa hẳn là đây.
Chuông ngân thánh thót trên đầu núi,
Suối chảy rì rào dưới tán cây.

Rộn rã vời nghe cơn sóng vỗ,
Đìu hìu lặng ngắm cánh chim bay.
Dấu thơm muôn thuở còn ghi để,
Linh Ứng vang đồn Đông lại Tây.

Lĩnh Chúa Linh Từ là nơi tôn thờ Bà Chúa linh thiêng của cả vùng núi Bà Nà. Mẫu Thượng Ngàn, còn gọi là Mẫu Đệ Nhị cai quản miền rừng núi. Mẫu Thượng Ngàn gắn bó với con người cùng cỏ, cây, chim, thú.

Chuyện kể lại rằng, người dân vùng Bà Nà từ bao đời nay, được Mẫu Thượng Ngàn che chở, khi có bất kỳ điều gì xảy ra, họ đều đến đây, khấn bà phù hộ, và họ tin vào sự bao dung như mẹ của Bà Chúa Thượng Ngàn, sẽ cho họ sự yên bình, sáng suốt và thanh thản.

Tọa lạc nơi cao nhất của núi Chúa – với độ cao 1.487m so với mặt biển, Lĩnh Chúa Linh Từ là nơi trời đất giao hòa, âm dương hội tụ thích hợp cho những chuyến hành hương tâm linh. Khách thập phương lên với đền Bà Chúa Thượng Ngàn luôn cảm thấy cảnh vật thanh bình, tâm hồn thư thái.

Đến Bà Nà, du khách đừng quên đến với chùa Linh Ứng. Ở độ cao 1.400m trên núi Bà Nà, chùa Linh Ứng mang kiến trúc gần giống với kiến trúc của chùa Tam Thai (Ngũ Hành Sơn), với một khoảng sân rộng lát đá lớn và một cây thông đặc biệt có ba loại lá khác nhau nằm ngay phía trước sân. Chùa Linh Ứng không chỉ được xây dựng để bảo tồn các giá trị tinh thần và thực hiện nghi lễ mà còn là điểm du lịch tuyệt vời nhờ cảnh quan xung quanh và kiến trúc chạm khắc đá cẩm thạch độc đáo.

Ẩn hiện trong lớp sương khói mờ ảo của chùa Linh Ứng, tượng Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni cao 27m trong trạng thái thiền định với những nét chạm khắc tinh tế đã trở thành điểm nhấn không chỉ của riêng chùa Linh Ứng mà còn cả của đỉnh Bà Nà.
Trong trạng thái thiền định, nhưng Đức Bổn Sư như vẫn lo lắng cho nhân gian, cặp mắt Ngài vẫn dõi lên núi rừng xanh tốt của Bà Nà mang ý niệm về hòa bình, an lạc, truyền bá ý thức bảo vệ môi trường thiên nhiên, bảo vệ di tích, thúc đẩy nền văn hóa và thể hiện ước mơ, hy vọng cho sự thành công và thịnh vượng của con người.

Dù chiêm bái trong tiết trời nắng ráo từ thành phố Đà Nẵng, hay trong sương khói bảng lảng đặc trưng của Bà Nà, tượng Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni sẽ khiến cho du khách thập phương cảm nhận hết được ý nghĩa của cụm từ “đường lên tiên cảnh”.

Đầu xuân, du khách thập phương đến Bà Nà Hills sẽ có cơ hội tham quan và chiêm ngưỡng Lầu Chuông được xây dựng theo lối kiến trúc nhà Phật với chiếc chuông đồng nặng 4 tấn được đúc ngay tại đỉnh thiêng Bà Nà. Cùng với vẻ đẹp của Lầu Chuông, du khách còn được dịp thưởng ngoạn vẻ đẹp của tháp Nghinh Phong Tự cao 9 tầng trên đỉnh Bà Nà. Đặc biệt, mỗi tầng có 4 chiếc chuông đồng được treo ở 4 góc…

Bên cạnh Lầu Chuông là Nhà Bia được xây dựng uy nghiêm, cổ kính. Bên trong là tấm bia đá lục lăng cao 1,8m, trên các mặt bia được chạm khắc những bài thơ lãng mạn về cảnh đẹp thiên nhiên của Bà Nà và cả thành phố Đà Nẵng...

Bà Nà - nơi trời đất giao hòa, du khách đến chùa Linh Ứng, đền Lĩnh Ứng Linh Từ… vừa gửi niềm tin tâm linh với những nguyện cầu riêng, vừa như trút bỏ mọi ưu phiền, trải lòng giữa chốn linh thiên…

Theo Đoàn Hồng (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!

Đầu năm, ra chùa Đục

(BCT) - Đi lễ chùa đầu năm là một trong những nét đẹp văn hóa của người Việt. Chùa Đục ở đảo Lý Sơn của tỉnh Quảng Ngãi được nhiều người dân địa phương và du khách xa gần tìm đến không chỉ bởi ý nghĩa tâm linh mà còn vì khung cảnh non xanh nước biếc. Người dân trên đảo tin rằng đây là nơi đức Quan Âm ngự để phù hộ và giữ bình yên cho vùng biển này.

Ngôi chùa tọa lạc ở lưng chừng miệng núi lửa đã "ngủ" hàng triệu năm nay. Người địa phương gọi là chùa Đục có lẽ bởi hàng trăm bậc thang gần như thẳng đứng khắc vào đá núi làm lối dẫn từ biển lên chùa. Từ chánh điện đến các bệ thờ hầu như đều được xây dựng trong hốc đá, hang đá. Đó chính là điểm đặc biệt của danh thắng tâm linh này.

Người dân miền biển vốn có đời sống tâm linh rất phong phú. Nằm ở vị trí tiền tiêu, quanh năm vật lộn với sóng biển, người dân đảo Lý Sơn càng tin vào đức Quan Âm. Ngay cổng vào chùa Đục là tượng Quan Âm cao đến 27 mét nhìn ra biển như để quan sát và giữ yên bình cho ngư dân mưu sinh trên biển.

Trên đảo Lớn, có khá nhiều đình, chùa, miếu... nhưng chùa Đục tọa lạc ở vị thế đẹp nhất và nổi tiếng linh thiêng. Chùa thu hút không chỉ người dân địa phương và du khách lớn tuổi mà cả du khách trẻ cũng tìm đến nơi này. Từ xa, ngôi chùa trông như ở chốn non bồng.

Chùa nằm trên vách núi xanh um. Đỉnh núi nhìn về phía Đông, là một mõm đá nhọn hoắc, cong vút chĩa thẳng lên trời như mũi thuyền khổng lồ của hải đội Hoàng Sa xưa. Đó là miệng của ngọn núi lửa. Đi theo lối lên chùa, du khách đến đỉnh núi và mở ra trước mắt là một cảnh sắc ngoạn mục. Đỉnh núi chùa Đục là một lòng chảo lớn- dấu tích của miệng núi lửa ngừng hoạt động. Nơi đây, cỏ cây xanh um quanh năm; nhiều nhất là cỏ tranh lao xao trong gió.

< Đỉnh Mũi Thuyền gần chùa Đục.

Từ đỉnh phía chùa Đục, du khách đi sâu xuống thung lũng rồi theo con dốc đá gần như thẳng đứng để chinh mục mũi thuyền của "hải đội Hoàng Sa".

Thật bỏ công vất vả, khi lên đến đỉnh, nhìn ra xa, trước mắt du khách là bãi biển dập dìu những con sóng; nhìn về phía chùa, phong cảnh càng thêm nên thơ. Trong quần thể những ruộng trồng tỏi, những mái nhà ngói rêu phong, ngôi chùa như một bức phù điêu khổng lồ, chạm trổ tinh xảo trên vách núi. Bên kia là vành của miệng núi lửa nhấp nhô, uốn lượn.

< Du khách tham quan Chùa Đục.

Nếu rộng thời gian, du khách có thể tìm đến những lão niên sống gần núi Giếng Tiền để nghe những câu chuyện hư hư thực thực quanh đảo. Người dân trên đảo thường truyền miệng nhau câu chuyện người Hời (cách gọi người Chăm cổ của người dân địa phương) đã chôn những kho báu trước khi rời đảo. Để bảo vệ kho báu, tránh tai mắt người đời sau, họ yểm bùa bằng cách chôn theo một trinh nữ cầm con dao và hóa châu báu thành ngựa vàng, cua vàng, gà vàng…


< Tượng Phật Bà nhìn từ đỉnh núi.

Ghi nhận của tộc họ Bùi trên đảo, năm 1545, ông Bùi Tá Hán đưa quân ra giữ đảo. Người Hời vốn không chịu sống chung với dân tộc khác nên bỏ về đất liền. Và câu chuyện kho báu xuất phát từ đó. Dân trên đảo vẫn thường kể cho nhau nghe đã từng có người thấy ngựa vàng phi nước kiệu trên bãi biển rồi mất hút hay bầy gà vàng kiếm ăn quanh quẩn trên đảo. Những câu chuyện như cấu như thế luôn hấp dẫn người dân địa phương và du khách. Ban đêm, bên tách trà, chén rượu trên đảo ngồi bàn tán về kho báu người Hời thì còn gì lý thú bằng.

< Miệng múi lửa đã ngủ yên phía sau Chùa Đục.

Một chuyến đi đầu năm thẳng theo hướng biển Đông và dừng lại trên đảo Lý Sơn viếng chùa Đục để cầu may và bình an theo tín ngưỡng của cư dân bản địa và vãn cảnh "mũi thuyền hải đội Hoàng Sa" thì còn gì bằng!

Chùa Đục còn có tên là Đỉnh Liêm Tự, nằm lưng chừng núi Giếng Tiền ở phía Đông của đảo Lớn thuộc huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Từ cảng cá Sa Kỳ, cách trung tâm thành phố khoảng 30 cây số, khách ngồi tàu cao tốc ra đảo, mất khoảng hơn một giờ. Nếu đi chuyển bằng tàu hàng, tàu cá, thời gian di chuyển gấp đôi. Từ cảng Lý Sơn, phải đi đường bộ hoặc đường biển khoảng 3 cây số mới đến được chùa.

Theo Ngọc Liên (Báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!

Chùa Đục, chùa Hang trên đảo Lý Sơn

Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Tháng Giêng lên núi hành hương

(TTO) - Ông bà mình có câu “Lễ tiết quanh năm không bằng rằm tháng giêng”. Kết thúc công việc đồng áng làm ăn và sau khi ăn tết ở nhà, người dân miệt đồng bằng sông Cửu Long lại rủ nhau lên núi hành hương.

< Khách du xuân khám phá đỉnh Anh Vũ Sơn.

Bằng phương tiện cá nhân hoặc xe đò, họ lũ lượt đổ về núi Sam, núi Cấm hoặc các khu du lịch vùng Bảy Núi - An Giang để du xuân, vãng cảnh... Qua rằm tháng giêng vẫn “ngựa xe như nước áo quần như nêm”. Mấy bà, mấy chị ở gần nhà tôi năm nào cũng thuê xe du lịch đưa cả gia đình cùng bạn bè đi núi. Có năm họ dừng lại ở núi Sam (Châu Đốc), có năm đi thẳng lên lâm viên núi Cấm, núi Tô, đồi Tức Dụp, hoặc chợ Tịnh Biên.

< Khách hành hương đổ bộ lên núi Cấm.

Trong suốt hành trình, mọi người vừa tham quan thưởng ngoạn, vừa thưởng thức các món ngon vật lạ của núi rừng Tây Nam như nước thốt nốt tươi, cháo bò, lạp xưởng bò, bún cá, gà hấp lá trúc, mắm thái Châu Đốc và các loại bánh làm từ trái thốt nốt…

Xe dừng lại dưới chân núi, mọi người rộn ràng, tất bật, kẻ leo núi, người lên chùa, ai ai cũng cảm thấy lòng khoan khoái như bỏ lại sau lưng tất cả những tính toán lo âu để hòa mình vào không gian yên tịnh của núi rừng.

Mọi người đi núi trong tiết trời vào xuân để trao nhau ánh mắt nụ cười, để trải lòng mình cùng với trời đất bao la và tìm sự khuây khỏa. Họ đi từng đoàn, từng nhóm, đông đến nỗi các khu vực xung quanh chùa Phật Lớn, chùa Vạn Linh, tượng Phật Di Lặc không còn lối đi, đông nhất là từ mùng bảy đến rằm tháng giêng.

< Khách du xuân lên núi Ông Két vui chơi và thư giãn.

Mùa xuân trên núi Cấm, núi Ông Két, núi Tô thật đẹp, êm ả và thanh bình. Sáng sớm, trời se sắt lạnh, tới khoảng 9g nắng dần ấm lên, đất trời như bừng sáng, các loại hoa rừng đua nhau khoe sắc, khiến mùa xuân như kéo dài bất tận. Chính vẻ đẹp hoang sơ đó đã làm nên nét đặc trưng của vùng Bảy Núi.

Trên đường đi, nhiều người thích dừng lại nơi các quán võng để ngã lưng, tai lắng nghe tiếng suối róc rách phát ra từ trong tĩnh lặng khiến tâm hồn càng sảng khoái, nhẹ nhàng. Có đoàn còn mang theo cả “fast foot đồng bằng” để cùng nhau quây quần bên những gốc cây hoặc tảng đá mở tiệc và nhâm nhi chút rượu mừng xuân thật vui vẻ.


< Tháng giêng, bà con hành hương đông nhất tại các chùa miễu trên núi.

Hình như núi non có một sức hút kỳ lạ đối với người thành thị, nhất là người dân vùng sông nước. Dù trên núi thiếu mọi tiện nghi, nhà trọ sơ sài, quán ăn quán nước đơn sơ mộc mạc, chẳng có gì lôi cuốn, thế nhưng ai nấy cũng đều say mê thích thú như lạc vào một thế giới thần tiên đầy hoa thơm cỏ dại, không khí trong lành.

Đến đâu cũng có người mời vào nhà nằm võng, uống nước giống như thông điệp của một thế giới thân thiện, yên bình, hoàn toàn xa lạ với cảnh đua chen, vội vã của thị thành.

Đường lên núi quanh co, uốn lượn, nơi nào cũng đẹp, cũng tươi tắn, đặc biệt ở những vồ núi cao có sương mù bao phủ, có những thảm xanh như lụa ở điện Bồ Hong, Vồ Đầu (núi Cấm) dành riêng cho những người có sức khỏe, nhiều đức tin và tình yêu thiên nhiên.

< Khách du xuân xin xăm cầu phúc đầu năm.

Đến đó, nếu ở lại qua đêm, mọi người sẽ có dịp ngắm cảnh chiều hoàng hôn bãng lãng, lắng nghe tiếng gió đại ngàn mà quên hết mệt nhọc và lòng cảm thấy trống không sau một chuyến du xuân trở về.

Ngoài việc tham quan ngắm cảnh, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và phát huy những tình cảm cao đẹp, bạn bè trai gái hằng năm lên núi còn ghi lại biết bao mối tình tuyệt đẹp được đơm hoa kết trái từ những cuộc gặp gỡ đầu xuân. Thật không có gì thích thú và bổ ích bằng!

Gửi lại muộn phiền - mang về điều tốt lành

< Trước khi xuống núi, khách hành hương thắt gút cỏ cây như muốn gởi lại tất cả phiền não của năm cũ.

Trẩy hội mùa xuân trên vùng Bảy Núi là một tập tục truyền thống lâu đời vừa mang tính thế tục, vừa mang màu sắc tâm linh và hướng về cội nguồn, vì từ lâu núi Cấm đã từng được coi là “đỉnh non thiêng”. Trước khi xuống núi, nhiều người thường buộc thắt gút các ngọn cây, ngọn cỏ với tâm ý gởi lại tất cả những gì phiền muộn lo âu và chỉ mang về những niềm vui, hạnh phúc và điều tốt lành.
Mặc dù xin xăm bị coi là một hoạt động mê tín nhưng vẫn còn không ít người mỗi lần lên núi thường xin một thẻ xăm để biết được vận mạng của mình với hi vọng một năm mới an lành và thịnh vượng.

Theo Hoài Vũ (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Cõi Phật nơi trần thế

(ANTĐ) - Người ta đi lễ chùa cầu tài, cầu lộc, cầu đăng khoa, đỗ đạt, còn tôi chỉ quan niệm giản dị, đi chùa là để tìm chút thư thái trong tâm, tiếp sau là vãng cảnh để hòa mình với khí thiêng của trời đất buổi đầu xuân. Trong tiết trời xuân, khi mưa rắc bụi,  một lần ghé chân tới Tổ đình Trung Hậu hẳn sẽ mang lại cho những người đi lễ chùa thật nhiều xúc cảm.

Tổ đình Trung Hậu hay dân gian vẫn quen gọi là chùa Trung Hậu thuộc xã Tiền Phong, huyện Mê Linh cách trung tâm Hà Nội chừng 25km. Điểm nổi bật của ngôi chùa chưa hẳn là cổ kính này không chỉ nằm ở những bức phù điêu gỗ đặt trong gian thờ Tổ mà còn bởi cảnh sắc tuyệt tác trong khuôn viên chùa. Khắp nơi, đâu đâu cũng là cây cỏ, từ những giống lan “khó tính” cho tới những chậu hoa đá dễ trồng đều toát lên một vẻ đẹp thanh thoát làm mê đắm người đi lễ chùa.

Đặt chân tới tam quan, cánh cửa gỗ mộc mạc như gợi nhắc du khách về một miền ký ức xưa cũ nơi làng quê Bắc bộ. Tượng đức Phật trên vọng gác từ bi đón nhận khách thập phương về bái viễn. Rồi chỉ qua tam quan ấy thôi, cả một thế giới hoa cỏ bỗng đâu ùa về để lại sau cửa Phật những bụi trần nặng trĩu.

Con đường dẫn vào gian thờ chính không trải nhựa, cũng không lát gạch mà chỉ toàn là sỏi. Chú tiểu ở chùa khẽ giải thích rằng vì khách phương xa đi đường mệt nhọc về tới đây đi trên con đường này bàn chân sẽ được những viên đá cuội kia làm cho thư thái.

Dọc lối đi sư thầy trồng rất nhiều cây mai, cây mận bung nở những bông trắng muốt, xen lẫn những thứ cây dân dã trong vườn nhà như bưởi, cam, nhãn… trên những cành cây ấy rực lên sắc đỏ của những miếng lụa cầu phúc mà người đi lễ buộc lên. Giữa hồ sen rộng, lầu Quán Âm bằng gỗ được cất lên, ở đó đức Phật bà hiền từ soi rọi mọi nỗi khổ của thế nhân mà phổ độ chúng sinh.

Vào trong sân chùa, qua ang nước hoa súng nở tràn, là những luống hoa hồng, hoa tường vi nhuộm thắm một góc sân. Lễ Phật xong, du khách an nhàn thả bước về phía hậu viện nơi mở ra một cõi tiên nơi trần thế. Ở đó vườn hoa lan của sư thầy rủ nhau khoe sắc, có những loài lan quý hiếm thuộc dạng khó trồng cũng đang độ ra hoa. Còn có cả những cây cỏ giản dị vô ngần như cây bỏng, cây hoa đá cũng đầy sức mê hoặc. Khách lạc bước chốn bồng lai cơ hồ nhận thấy cỏ cây chốn linh thiêng này cũng hữu tình lắm, nhánh cây ngọn cỏ nào cũng đẹp cũng có linh hồn. Giữa chốn cỏ cây, giữa tiếng chuông chùa điểm khẽ, lòng kẻ lữ khách thấy nhẹ nhõm lắm thay để bỗng nhận ra từng bước chân nặng nỗi lo toan thường ngày giờ thật an lạc, quên cả thời gian, quyến luyến chẳng muốn về.

Hẳn sư thầy ở đây phải là người hiền từ, đôn hậu bởi đám cỏ cây mà ngày ngày người vun trồng tưới tắm như đã kể cho lữ khách nghe về người. Chẳng thế mà chùa Trung Hậu là nơi được chọn để tổ chức các khóa tu cho học sinh, sinh viên nhằm giúp các bạn hiểu hơn về cội nguồn, về hiếu, lễ.

Trong chuyến hoằng pháp tại Việt Nam của Đức Nhiếp Chính Vương Gyalwa Dokhampa, chùa cũng được ngài chọn làm nơi ngụ lại để chủ trì Pháp hội cầu nguyện Quốc thái dân an, đồng thời tổ chức nghi thức quán đỉnh cộng đồng với khoảng gần 1.000 Phật tử thập phương về dự.

Theo Tuấn Linh (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Chùa Hưng Thiện ở Bạc Liêu

Chùa Hưng Thiện tọa lạc tại ấp Phú Tòng, xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, cách thành phố Bạc Liêu khoảng 7 km về hướng đông.

< Tượng Quán Thế Âm Bồ tát một tay cầm bình cam lồ, một tay bắt ấn niệm kinh chú, đứng trên tòa sen với những cánh sen màu hồng nhạt.

Đây là một ngôi chùa nông thôn xưa đã tồn tại trên trăm năm, có nhiều thành tích trong hoạt động Phật sự, góp phần tích cực trong việc hoằng hóa đạo pháp và đào tạo tăng ni cho thế hệ kế thừa.

< Hai hàng tượng hóa thân Quán Thế Âm Bồ tát hai bên sân trước, lối dẫn vào khu chánh điện. Dự kiến việc dựng các pho tượng này sẽ hoàn tất vào cuối năm 2014.

Trước mặt chùa Hưng Thiện có một con kinh nhỏ, bên kia bờ kinh là một khu đất trống, tại khu đất này hơn trăm năm trước đã có một am nhỏ bằng cây lá rừng do một người phụ nữ xây cất để tu hành.

< Hai bên tòa sen có cầu thang dẫn lên nơi Quán Thế Âm Bồ tát ngự.

Đến năm 1870, một người giàu có trong vùng tên gọi Xã Mọi thấy bà là người có tâm đạo nên đã hiến cúng hai mẫu đất ở cạnh am, đồng thời bỏ tiền ra để xây dựng một ngôi chùa nhỏ bằng cây gỗ, mái lợp ngói. Ngôi chùa mang tên Hưng Thiện đã ra đời từ đó.

Sau gần hai trăm năm, qua nhiều lần xây dựng - trùng tu với bảy đời trụ trì, mỗi thời kỳ đều có sự phát triển, nhất là từ năm 1995 đến nay, chùa Hưng Thiện như thay da đổi thịt tạo được nhiều thành tích trong các hoạt động Phật sự, công tác từ thiện xã hội…

Đầu năm 2008, chùa đã khởi công dựng tượng Quán Thế Âm Bồ tát có tổng chiều cao 43,5 mét. Thánh tượng Bồ tát do nghệ nhân Châu Viết Thạnh tôn tạo, nghệ nhân này cũng chính là tác giả xây dựng thánh tượng Bồ tát Quấn Thế Âm cao 70 mét tại Đà Nẵng, tượng đứng cao nhất nước Việt Nam, tác giả đã hoàn tất xong năm 2009.

< Rất nhiều tranh, phù điêu La Hán bên trong chánh điện do phật tử khắp nơi cúng dường.

Thánh tượng tại chùa Hưng Thiện, riêng phần thân tượng do nghệ nhân Châu Viết Thạnh phụ trách, các hạn mục còn lại của công trình đều do người trong chùa thực hiện theo thiết kế.

< Phật tử hoan hỉ dùng cơm chay dưới gốc cây sala sau khi chiêm bái lễ Phật.

Đến cuối năm 2013, việc dựng tượng đã hoàn thành. Đây có thể được xem là pho tượng Quán Thế Âm lớn nhất Bạc Liêu hiện nay.

Sự ra đời của thánh tượng Bồ tát Quán Thế Âm lại càng góp phần tích cực cho việc xiển dương Phật giáo, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch tỉnh nhà có những bước phát triển tốt đẹp.

Ảnh The Saigon Times
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Đền thờ Ông Bà Chủ Chợ

(TBKTSG) - Có lẽ bạn sẽ ngạc nhiên vì sao ông bà chủ một cái chợ lại được lập đền thờ. Ấy vậy mà ở thành phố Cao Lãnh (Đồng Tháp) có một ngôi đền như thế. Đó là đền thờ ông bà Đỗ Công Tường hay còn gọi ông bà chủ chợ Cao Lãnh. Ngôi đền rất cổ kính, trang nghiêm, nằm ngay khu trung tâm, trên đường Lê Lợi thuộc phường 2, thành phố Cao Lãnh.

< Tam quan của ngôi đền thờ Ông Bà Chủ Chợ.

Ông Đỗ Công Tường tục danh là Lãnh. Người sinh quán ở miền Trung đến lập nghiệp tại làng Mỹ Trà dưới triều Gia Long vào năm Đinh Sửu (1817). Với đức tính cần cù, chịu khó, ông bà đã khai khẩn đất hoang, trồng được một vườn quít khá lớn, cây trái sum suê.

Nơi đây thuận tiện cả đường sông, đường bộ nên dân làng thường tụ tập để trao đổi, mua bán cây trái và hàng hóa ngày. Lâu ngày, chợ đông dần, và trở thành nơi trao đổi, mua bán hàng hóa. Từ đó, gia đình ông bà khá giả dần lên. Với đức tính cương trực, thẳng thắn nên được dân làng chọn giữ chức Câu đương, phân xử những vụ tố tụng trong làng.

< Điện thờ chính trong ngôi đền Ông Bà Chủ Chợ.

Năm 1820 đất trời biến động, bệnh dịch tả phát lên dữ dội làm chết rất nhiều người trong làng, chợ vườn quít trở nên thưa vắng, không khí trong làng bao trùm cảnh tang tóc, lo âu. Với tấm lòng nhân từ, bác ái, động lòng trắc ẩn, thương cảm dân tình trong làng lâm vào đại nạn, ông bà đã lập bàn hương án, cầu nguyện phật trời xin chết thay cho dân chúng. Qua ba ngày cầu khẩn, chay lạt thì bà chết, ngày sau ông cũng chết theo vì dịch bệnh.

An táng cho ông bà xong, bịnh dịch lần hồi cũng dứt luôn. Do vậy, dân làng nghĩ rằng lòng thành của ông bà thấu đến Trời Phật, chính ông bà chết thay cho họ, nhờ đó mà họ thoát chết. Nên cùng nhau kẻ ít người nhiều, chung đậu dựng ngôi đền thờ ông bà bên rạch Thầy Khâm (nay là đại lộ Lê Lợi), ngày đêm khói hương không dứt để tưởng nhớ công lao hai người, gọi là đền Ông Bà Chủ Chợ. Hàng năm cúng bái long trọng.

< Mộ Ông và mộ Bà.

Từ đó, chợ Ông Câu, được gọi là chợ Câu Lãnh, lâu ngày nói trại thành Cao Lãnh. Lần hồi Cao Lãnh trở thành một địa danh cho đến ngày nay.

Năm 1936, đại hương cả làng Mỹ Trà là Huỳnh Kim Sanh, đệ đơn nhờ Chủ quận Cao Lãnh xin triều đình sắc phong. Cuối năm, vua Bảo Đại phong sắc cho ông bà Dực bảo trung hưng linh phù chi thần. Từ đó miếu ngày càng được trùng tu, cúng tế mỗi năm 2 lần: Ngày vía ông bà: 09 -10 tháng 6 âm lịch; Ngày sanh ông bà: 16 -17 tháng 3 âm lịch.

Do ngôi đền nằm ở trung tâm thành phố, lại có không gian rộng lớn nên rất thuận tiện cho mọi người đến viếng thăm, cúng bái. Ngôi đền được trang hoàng lộng lẫy với cổng tam quan to, chắc chắn, được trang trí rực rỡ, với kiến trúc đền miếu Nam Bộ vào cuối thế kỷ XIX. Phía trước cổng có tượng của bốn con sư tử đặt ở hai bên cổng. Hai con sư tử mẹ với tư thế ngồi xổm như canh chừng để xua đuổi tà khí và mọi điều xui xẻo vào đền, hai con sư tử con ở hai bên thì đùa giỡn với trái cầu, biểu tượng cho một cảnh sắc thanh bình.

Ở mỗi cửa của cổng tam quan đều có mái nóc, trên có lợp ngói, được trang trí nhiều hoa văn họa tiết, nổi bật với hai gam màu vàng và đỏ. Phía trên cổng chính có biển đề: Đền thờ Ông Bà Đỗ Công Tường. Sau cổng là một khoảng sân hơi hẹp nhưng khá sạch sẽ, được điểm xuyết bởi những cây kiểng quý như: mai vàng, mai chiếu thủy, thiên tuế… làm cho không gian trở nên dịu mát hơn giữa cảnh ban trưa nắng gắt. Đền thờ gồm có một nhà chính và một nhà phụ. Nhà phụ nằm bên phải đền thờ là nhà khách, nơi dùng để tiếp khách, sinh hoạt của những người phụ trách đền và cũng là nơi chuẩn bị thức cúng trong mỗi kỳ tế lễ.

< Hương án thờ bài vị ghi ba chữ Chủ thị miếu bằng chữ Hán.

Đền thờ, ngoài bề ngang khá rộng, chiều dài cũng khá sâu. Ngay cửa chính của đền thờ là một tấm bia bằng kim loại ghi công tích của ông bà trong lịch sử được đặt ngay chính giữa lối đi, có tác dụng như bức bình phong che chắn những cái nhìn trực diện từ ngoài vào gian chính điện. Khuôn viên bên trong đền thờ được trang hoàng rực rỡ nhưng cũng đượm vẻ thâm u, tạo nên một không khí thiêng liêng và tĩnh lặng đến lạ thường. Trong này được chia thành nhiều gian, mỗi gian có một trang thờ riêng, thờ các vị thần khác nhau, như gian thờ Quan Thánh Đế, gian thờ Khổng Tử và có cả gian thờ Thành hoàng của đình thần Đình Trung…

Sau cùng mới là gian chính điện, nơi thờ ông bà chủ chợ. Gian này cũng được trang trí rực rỡ, tinh tế với nhiều hoa văn họa tiết vừa đẹp, vửa tỉ mỉ và khéo léo. Giữa trang thờ này có bài vị to, trên đó có viết ba chữ Hán: Chủ thị miếu - tức là miếu chủ chợ. Phía trước trang thờ này còn có võng rèm bằng gỗ được chạm khắc hình rồng ẩn mây, lưỡng long tranh châu vừa lộng lẫy vừa tôn thêm sự uy nghiêm của gian thờ.

Với những gì còn lưu giữ được ngày nay, đền thờ ông bà chủ chợ đã được UBND tỉnh Đồng Tháp xếp hạng di tích vào ngày 20 tháng 4 năm 2001.

Tên tuổi ông bà Đỗ Công Tường đã gắn liền với địa danh Cao Lãnh, gắn với một giai thoại về nhân nghĩa ở đời. Vì vậy, nếu có dịp về Đồng Tháp, xin mời du khách đến tham quan đền thờ ông bà Đỗ Công Tường, một di tích lịch sử đã ngự trị mãi mãi trong lòng nhân dân Đồng Tháp nói riêng, nhân dân Nam Bộ nói chung.

Theo Trần Quang Diệu (The Saigon Times)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 27 tháng 1, 2014

Chùa Phước Sơn - Phú Yên

Tổ đình Sắc tứ Phước Sơn (còn gọi là chùa Phước Sơn) tọa lạc tại thôn Tân Phước, xã Xuân Sơn Bắc, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Chùa được dựng trên núi Phú Mỹ Sơn, mặt hướng Nam, trước có cánh đồng lúa tên Đồng Tròn và con sông La Hai chảy qua.

Có hai hướng đến chùa: Một là theo con đường vào chùa Triều Tôn ở xã Xuân Thọ 2, huyện Sông Cầu (gần cầu Lò Vôi), đi tiếp khoảng 6 km. Hai là từ thị trấn Chí Thạnh, rẽ vào chùa Bảo Sơn ở xã An Định, huyện Tuy An, đi tiếp đến chùa.

Chùa do ngài Liễu Năng, hiệu Đức Chất khai sơn vào năm Gia Long nguyên niên (1802). Chùa Triều Tôn ở Sông Cầu và chùa Bảo Sơn ở Tuy An do hai vị sư đệ của ngài Liễu Năng là Liễu Diệu và Liễu Căn khai sơn vào năm Gia Long nhị niên (1803).

< Bản sao văn bia ở chùa phước Sơn.

Lúc đầu chỉ là ngôi chùa nhỏ, lợp tranh vách đất. Đến đời ngài Quảng Thiện trụ trì, đã xây dựng ngôi chùa khang trang vào năm 1836. Các vị trụ trì kế tiếp là Huệ Nhãn, Pháp Tạng, Thiền Phương, Phước Trí đã tiếp tục việc trùng tu tôn tạo ngôi chùa thành ngôi danh lam cổ tự trên đất miền Trung.

Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chính giữa tôn trí tượng đức Phật Thích Ca ngồi thiền định trên tòa sen, án hai bên thờ tượng Bồ tát Quan Thế Âm, Bồ tát Chuẩn Đề và Bồ tát Địa Tạng. Trước tượng Bổn sư, có bộ tượng Di Đà Tam Tôn (A Di Đà, Quan Thế Âm, Đại Thế Chí) và hai tượng Hộ Pháp. Sau điện Phật là nhà tổ, thờ Tổ sư Đạt Ma và long vị chư tổ của chùa.

Dọc theo triền núi, phía trái có hai ngôi tháp, một của Tổ khai sơn Liễu Năng và ngài Thiền Phương. Phía tay phải trên đường vào chùa, là tháp của các ngài Huệ Nhãn, Quảng Thiện và Pháp Tạng. Chùa còn giữ nhiều bảo vật của Triều đình nhà Nguyễn ban thưởng 6 lần từ năm 1881 đến 1939. Năm Bảo Đại thứ 14 (1939), chùa được ban biểu ngạch Sắc tứ.

Đây là ngôi tổ đình của chi phái Chúc Thánh dòng Lâm Tế chánh tông tại Phú Yên, ngôi danh lam của miền Trung nước Việt.

Theo Vuonhoaphatgiao
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Về Sa Đéc thăm Phước Hưng cổ tự

(GNO) - Sa Đéc là thị xã nhỏ nhưng giàu tiềm năng của tỉnh Đồng Tháp. Nơi đây không chỉ nổi tiếng bởi các làng nghề truyền thống, các cơ sở chế biến nông thủy sản xuất khẩu, trái ngọt cây lành... mà du khách đặt chân đến đây còn ngạc nhiên và sùng kính với 50 ngôi tự viện uy nghi tọa lạc trên các nẻo đường.

Người dân có lời truyền tụng: Sa Đéc là “đất Phật”... và Phước Hưng là một trong những chùa đẹp cổ kính trên vùng đất ấy. Phước Hưng Cổ Tự (còn gọi là Chùa Hương) là một cổ tự nằm trên đường Hùng Vương, trung tâm thị xã Sa Đéc (Đồng Tháp). Chùa được xây dựng vào năm 1838, vài trải qua một vài lần trùng tu sau đó.

Chùa có lối kiến trúc khá đặc biệt hơn các cổ tự ở miền Nam Việt Nam (kiểu giống ngôi đình làng hơn là ngôi chùa). Chùa có 08 mái và 02 cấp, được lợp ngói âm dương. Nóc và các bức phù điêu trên mái chùa được cẩn miểng gốm màu, tạo dáng hình long, lân, qui, phụng...

Năm tháng trôi qua, thời gian bạc màu trên mái ngói rêu phong, cổ kính. Phước Hưng cổ tự đã gần 2 thế kỷ dãi dầu sương nắng, 7 đời trụ trì nối tiếp nhau tu bồi đạo nghiệp. Chùa do Thiền sư Thích Minh Phước khai sơn năm Mậu Tuất 1838, thuở Sa Đéc còn rất hoang sơ. Năm Bính Ngọ 1846, chùa Minh Hương của cộng đồng người Hoa, cũng ở Sa Đéc, do một biến cố phải di dời rồi sáp nhập với Phước Hưng tự.

Trong số các pháp khí có giá trị của ngôi cổ tự này phải kể đến chiếc mõ hình song ngư được tạo từ năm Mậu Tý 1888, mỗi khi thời tiết nắng nhiều thì tiếng mõ có âm thanh chát, trời mát thì âm thanh mõ lại trầm ấm. Ở chánh điện còn có thêm cái mõ gỗ nặng khoảng 15kg, đường kính ngang 1,4m; bề dọc 70cm do cố HT.Thích Vĩnh Tràng, trụ trì đời thứ tư phát nguyện ra tận miền Bắc thỉnh về.

Tương truyền, khi đi cũng như lúc về, ngài đều đi bộ, đặc biệt là trên suốt lộ trình từ miền Bắc về lại Sa Đéc, Hòa thượng đã đội mõ trên đầu, mỗi bước chân đều niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà.

Chùa Phước Hưng được thiết kế theo hình chữ Sơn. Chùa có tất cả 8 mái, theo cấu trúc 2 cấp. Phía trên đều lợp ngói âm dương truyền thống như những ngôi chùa thuở xưa. Xung quanh có hình đắp nổi, cỏ cây hoa lá chim muông đủ loại, lại thêm tứ linh Long, Lân, Qui, Phụng.

Chánh điện chùa Hương thờ phượng theo lối văn hoá cổ Đôn Hoàng. Những tượng Phật, tượng Bồ tát, và các pháp khí trên chánh điện đa phần có tuổi thọ không dưới trăm năm. Đặc biệt, trên chánh điện còn có cái mõ bằng gỗ, chạm hình song ngư tinh xảo, nặng hơn 10 ký, được Tổ Vĩnh Tràng thỉnh về từ Hà Tây ngoài Bắc. Nghe nói Tổ Vĩnh Tràng phát nguyện du hoá tận vùng kinh bắc, vừa đi bộ vừa niệm Phật, thành tâm thỉnh về chùa này làm pháp khí phụng thờ.

Ngoài ra, chùa còn có tôn tượng đức Hộ pháp, đức Tiêu Diện bằng đồng, nặng trên 30 ký, có tuổi thọ bằng tuổi của Tổ Vĩnh Đạt. Chiếc trống Bát Nhã nguyên bộng cây tròn vừa lớn lại vừa xưa. Tiếng trống phát ra âm thanh rất hùng hồn, ai nghe cũng thích. Chuông Đại Hồng Chung của chùa âm thanh u nhã vô cùng, chỉ cần thỉnh một tiếng nhẹ là cả vùng nghe rõ như ban ngày. Sau này, không biết vì lý do gì, hồng chung bị nứt, tiếng chuông không còn như xưa nữa.

Trên chánh điện phía trước còn hệ thống cửa sắt thật dày, thật kiên cố, súng bắn chưa chắc bể. Giữa Chánh Điện, Tổ Đường là một khoảng trống sâu rộng, giống như cái trũng được tráng xi-măng sạch sẽ.

Khu Tổ đường thiết kế 3 dãy bàn để chư tăng thọ trai trong những tháng ngày An cư kiết hạ. Ngay trung tâm Tổ đường là bàn thờ liệt vị Tổ sư từ thời khai sơn đến đương đại. Những di ảnh, linh vị được thiết trí, tôn thờ trong chiếc khánh bằng gỗ mun, được khắc hoạ, chạm trổ vô số hoa văn vừa tinh xảo vừa uy nghiêm.

Khu vực Đông Lang bao gồm phòng cho vị trưởng ban nhà trù, rồi nhà trù, nhà kho và những phòng nhỏ để đón tiếp thập phương Phật tử, bá tánh xa gần đầy đủ thiện duyên tới lui công quả. Khu vực Tây Lang, nguyên thuỷ là những phòng Tăng, phòng lưu giữ pháp khí, pháp bảo.

Trong chùa còn lưu giữ nhiều bảng khắc gỗ các kinh điển Đại thừa như Kim Cang, Địa Tạng, phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa, kinh Di Đà; các bộ luật Tì-ni nhật dụng yếu lược, Sa-di luật giải được tạo từ thời HT.Vạn Hiển, trụ trì đời thứ 3. Hiện nay, chùa Phước Hưng còn lưu giữ một bản in kinh Kim Cang gần một thế kỷ mà nét vẫn đẹp, sắc rõ, giấy khá trắng và bền.

Qua hai thời kỳ kháng chiến bảo vệ đất nước, hầu như hoạt động Phật giáo tỉnh nhà đều tập trung ở Phước Hưng. Ngay tại cơ sở tự viện, nề nếp tu học của chư Tăng đều được nhiều đời tôn đức trụ trì chú trọng. Ngoài các thời khóa công phu, tham thiền mỗi ngày, chư Tăng còn đến trường học văn hóa, tự học Hán văn. Hòa thượng trụ trì đời thứ 5, Thích Vĩnh Đạt còn cho các hộ nghèo lân cận vào vườn chùa hái rau, kiếm củi, tùy duyên giảng dạy giáo lý độ người.

Từ năm 1989 đến năm 1997, chùa là cơ sở trung cấp Phật học khóa I và II cho chư Tăng, mỗi khóa trên 100 vị. Từ năm 1982 đến năm 2010, chùa 9 lần mở giới đàn truyền trao giới pháp cho gần 3.000 giới tử trong và ngoài tỉnh. Năm 1993, được sự chấp thuận của TƯGH, Đồng Tháp đã đăng cai tổ chức Hội thi diễn giảng liên tỉnh Phật giáo miền Tây nam Bộ, ngôi cổ tự Phước Hưng lại trở thành trung tâm của sự kiện này.

Hiện nay, dù đã phục chế lại các phần hư hao xuống cấp, nhưng chùa vẫn được bảo tồn nét cổ, đảm bảo hài hòa với tổng thể kiến trúc nguyên thủy, lưu giữ những giá trị văn hóa, mỹ thuật, kiến trúc đặc thù của Phật giáo Nam Bộ.

Theo Giác Ngộ online và nhiều nguồn khác
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Đường lên suối Đổ

(PNO) - Suối Đổ nằm ở phía Tây dãy núi Hoàng Ngưu, thuộc địa phận huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Mùa xuân, phong cảnh nơi đây vốn đã đẹp lại càng đẹp hơn với suối reo, thác đổ và màu xanh bạt ngàn của cây lá.

< Đường lên chùa Suối Đổ.

Đường lên Suối Đổ là hơn trăm bậc xi măng khá cheo leo. Bên trái là rừng cây bạt ngàn, râm ran tiếng ve kêu. Bên phải, dòng suối róc rách trườn qua các khe đá, lúc ẩn lúc hiện giữa những tán cây cổ thụ rậm rạp. Tiếng suối róc rách hòa lẫn tiếng hót lảnh lót của chim rừng. Bản hòa tấu thanh bình khiến tâm hồn du khách nhẹ nhàng thanh thản.

< Một góc suối Đổ.

Gọi là suối Đổ vì suối bắt nguồn từ trên núi cao, tục gọi là hòn Chùa, băng qua những triền núi nhấp nhô, những phiến đá hoa cương đa hình dáng, nhiều màu sắc, đủ kích cỡ… chảy xuống dưới, tạo nên những dòng thác và những hồ nước thơ mộng.

Lên cao chừng 200 m, trước mắt bạn sẽ có hai con đường dẫn đến hai nơi: “Quan Âm Sơn tự” bên trái và “ Phổ Đà Sơn tự” bên phải. Khách thập phương đến suối Đổ không chỉ để ngắm cảnh, dầm mình trong suối mát, hít thở bầu không khí trong lành, lắng nghe tiếng chim hót, ve kêu …mà còn để vãn cảnh chùa, cầu xin những điều tốt lành.

< Tam Quan Phổ Đà Sơn tự.

Chùa Quan Âm tọa lạc trên khoảng đất rộng chừng vài trăm mét vuông, bên cạnh dòng suối rì rào chảy qua khe đá, tạo thành những dòng thác nhỏ trắng xóa. Trước sân chùa là tượng Phật Quan Âm. Ngôi chánh điện nằm trên cao, sơn son thếp vàng, uy nghi lộng lẫy. Bên trái có miếu thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Bên cạnh là đền thờ “ Ngũ mẫu” (5 mẹ : Kim Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ).


< Cánh đồng Phước Trạch.

Men theo những triền đá bên suối, bạn hãy sang Phổ Đà Sơn tự. Đây là nơi thờ Phật Bổn sư Di Đà. Tuy nhỏ hơn chùa Quan Âm nhưng cảnh sắc cũng rất nên thơ với hồ sen trước mặt và núi đá bao quanh.

Phía sau chùa Phổ Đà có đường mòn quanh co dẫn lên giếng Tiên trên đỉnh núi. Những người dân bản địa cho biết, Giếng Tiên rất sâu, dường như không thấy đáy. Nước ở giếng Tiên từ trên núi đổ xuống, trong và mát, quanh năm không bao giờ cạn, theo các triền đá chảy xuống dưới, tạo thành những dòng suối nhỏ của suối Đổ.

Trên suối Đổ còn có một địa danh rất linh thiêng: Động MaHa. Đó là một túp lều đá thiên nhiên dựng từ hai vách đá. Người dân bản địa đặt bàn thờ, bốn mùa đủ hương hoa.

Nếu có dịp đến suối Đổ, bạn còn có cơ hội gặp gỡ, trò chuyện với các thầy lang đang hái thuốc và nghe họ kể chuyện trị bệnh cứu người từ các lọai cây rừng của suối Đổ.

Theo Giao Thủy (báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Đầu xuân đi chùa Suối Đổ
 

Sample text

Sample Text

Sample Text

 
Blogger Templates