Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Nam sông Hậu, cung đường du lịch xanh

(VnExpress) - Không cứ phải Cần Thơ hay Bến Tre, bạn vẫn có thể hòa mình vào cảnh sông nước miền Tây khi đến với dãy cù lao ven sông Hậu của tỉnh Sóc Trăng.

Với những đặc trưng về tín ngưỡng, phong tục, Sóc Trăng được biết đến là một trong những vùng đất sinh sống của 3 dân tộc Kinh - Khmer – Hoa. Từ lâu, những ngôi cổ tự độc đáo hàng trăm năm tuổi ở Sóc Trăng như chùa Chén Kiểu, chùa Đất Sét, chùa Dơi…là điểm đến của không ít du khách gần xa.
Tuy nhiên, không chỉ có du lịch tâm linh, lễ hội mà với địa thế ở cuối vùng hạ lưu sông Hậu, nơi có biển có sông, có những sản vật miền Tây dân dã, Sóc Trăng còn là nơi lý tưởng để hòa mình vào cuộc sống thiên nhiên.

Dòng Cửu Long trước lúc hòa mình ra biển Đông, đã kịp trả lại những hạt phù sa cho đất mẹ, sóng dập gió dồn ngàn năm tích tụ tạo nên một dãy cồn bãi giữa sông, phong cảnh hữu tình, quanh năm cây ngọt trái lành, rất thích hợp cho loại hình du lịch xanh, du lịch dã ngoại. Trong đó, đáng kể nhất là cồn Mỹ Phước thuộc xã Nhơn Mỹ, huyện Kế Sách.

Từ điểm hẹn dân gian, nơi đây hiện là nơi tổ chức “Lễ hội sông nước miệt vườn” với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, ẩm thực, trò chơi dân gian đặc sắc, thu hút đông đảo du khách gần xa, đặc biệt là khách du lịch đến từ miền Bắc và miền Trung vốn xa lạ với vùng sông nước Cửu Long.

Rời Mỹ Phước là những dãy cồn bãi phía xa xa, cũng dọc theo tuyến sông trên cung đường Nam sông Hậu. Quê hương Sóc Trăng hôm nay đã khoác lên mình diện mạo mới với những chuyến phà sang đất cù lao, rồi từ đây qua Trà Vinh, Bến Tre. Không chỉ thuận tiện giao thương mà những chuyến phà còn mở ra một tour - tuyến lý tưởng cho du khách khi đến với Sóc Trăng.

Vượt qua Kế Sách với những vườn cây trái xanh tươi, du khách sẽ đến Long Phú với mênh mông ruộng lúa, đồng mía ngút ngàn. Theo làn gió mát rượi, đượm nồng hương vị biển, những vuông tôm thẳng tắp đưa du khách đến huyện mới Trần Đề. Những làng cá lẻ loi nơi đầu sóng ngọn gió năm nào giờ đã là một phố chợ khang trang. Du khách sẽ cảm nhận được sự phong phú của vùng đất được thiên nhiên ưu ái với cảng cá sầm uất, với lễ nghinh ông của ngư dân miền biển trong những ngày tháng 3 âm lịch.

Tiếp tục cung đường rộng mở, đi về phía biển, cách cảng cá không xa là Mỏ Ó – dãy đất cuối cùng của tỉnh Sóc Trăng, ngày đêm vươn mình ra bể để cho quê hương thêm dài rộng. Rừng ngập mặn, những bãi cát phẳng lặng nhấp nhô khi triều lên xuống là nơi trú ngụ của nhiều loài thủy hải sản. Chỉ với còng gió, thòi lòi, bống sao, cũng đủ cho du khách thị thành cảm thấy lạ lẫm, thích thú khi đến nơi này.

Với hệ thống cầu dẫn ra biển, khu nhà mát đang được khẩn trương xây dựng, dọp Tết nguyên đán này du khách có thể thoái mái mà vượt rừng ra ngắm trời rộng sông dài.

Tạo hóa thật khéo sắp đặt khi bên này Trần Đề là Mỏ Ó mênh mang với những cánh rừng phòng hộ, thì gần như đối diện phía bên kia là Hồ Bể lai láng của thị xã Vĩnh Châu. Dù cách biển ngăn sông nhưng giờ đây Mỏ Ó - Hồ Bể đã được nối nhịp bằng cầu Mỹ Thanh 2 khiến khoảng cách như ngắn lại.

Hồ Bể hiện vẫn là một bãi cát hoang sơ nhưng những ngày cuối tuần hay lễ tết vẫn có khá nhiều người đến để vui đùa trên cát cùng sóng biển rì rào. Thật lý tưởng cho một tour du lịch dã ngoại với những ai yêu mến thiên nhiên, muốn tìm về một thoáng tuổi thơ nơi bến nước con đò… nhất là những ngày này, gió xuân đang về, đất trời như nở hoa, Nam sông Hậu càng miên man hữu tình.

Theo Quốc Khởi (VnExpress)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Đi “phượt” Hòn Heo

(BCT) - Huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang có 2 nơi có địa danh Hòn Heo, là Hòn Heo “bờ” và Hòn Heo “đảo”. Hòn Heo “đảo” (gọi Hòn Heo) cách bờ (thị trấn Ba Hòn, huyện Kiên Lương) hơn 5 hải lý.

Biết từ Ba Hòn ra Hòn Heo có chuyến tàu chạy lúc 10 giờ 30, từ trung tâm quận Ninh Kiều (TP Cần Thơ), chúng tôi khởi hành lúc 6 giờ. Ăn sáng, cà phê dọc đường, đi ngả Lộ tẻ Tri Tôn (An Giang) qua cầu Tám Ngàn (Kiên Lương, Kiên Giang), rút ngắn vài chục cây số, vậy mà 10 giờ 50 ba chiếc xe gắn máy của chúng tôi mới tới bến tàu Ba Hòn. Tưởng trễ, may quá, 11 giờ tàu mới chạy.

Đó là chiếc tàu gỗ có sức chứa khoảng 50 hành khách cùng nhiều hàng hóa, chủ yếu rau cải, hàng tiêu dùng thiết yếu. Ra khỏi cửa Ba Hòn, mặt biển xanh một màu ngọc bích, gờn gợn sóng. Nhấp nhô xung quanh là những núi và hòn.

Đuổi theo tàu là những cánh nhạn trắng chao lượn, phóng ào xuống mặt sóng sau tàu rồi vút lên có lẽ trong mỏ có một con cá đang giẫy chết. Chưa đầy nửa giờ sau khởi hành, đã thấy trước mặt Hòn Heo xanh đậm nổi giữa biển nước xanh lam.

Hòn Heo là ấp trung tâm của xã đảo Sơn Hải, huyện Kiên Lương, rộng khoảng 150ha, chu vi chừng 7km2, với khoảng 2.100 nhân khẩu, phần lớn sống tập trung tại xã - là thung lũng giữa hai ngọn núi của ấp.

Ấp có 2 xóm: xóm Đầu Trên và xóm Đầu Dưới. Xóm Đầu Trên có bến tàu là nơi có nhiều đường ngang ngõ tắt nhỏ hẹp, nhà cửa sầm uất với nhiều hàng quán, có một nhà trọ duy nhất - là nơi chúng tôi chọn làm chỗ dừng chân trong thời gian đi “phượt” xã đảo này.

Nhà trọ có 8 phòng, 100.000 đồng/phòng quạt với một tấm nệm. Khách đến đây ai cũng đặt cơm trưa và chiều với chủ nhà trọ. Đường từ nhà trọ đến nơi ăn băng qua khoảng sân rộng, qua một số nhà nằm ven bờ xóm Đầu Dưới, nơi có những phụ nữ ngồi dưới hiên nhà hoặc trong bóng cây xanh mát, say sưa đan kết những tấm lưới đang dần định hình.

Cô Phạm Thị Kim Duyên cho biết “luồn lưới” ăn công. Luồn lưới là “nghề” khá phổ biến ở cái “thung lũng” này, với giá 8.000 đồng/kg. Cô Phạm Thị Mộng Cầm thổ lộ chồng đi đánh cá, ở nhà luồn và cắt lưới kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Họ chăm chỉ luồn lưới với bàn tay điêu luyện, như múa. Khung cảnh này gợi nét thanh bình, sung túc, in đậm tâm khảm bất cứ khách phương xa nào.

Cuối mấy nhà luồn lưới là xóm Đầu Dưới. Xóm nhà không đông nhưng là nhà tường, khá khang trang. Từ đây nhìn ra biển thấy Ba Hòn Đầm, Hòn Ngang, Hòn Dơi... vẽ nên cảnh sơn thủy hữu tình của quần đảo Bà Lụa.

Sát bờ biển, một nhóm thanh niên đang khề khà ly rượu đế trên cái chõng tre dưới bóng mát tàn cây tra. Mồi nhậu của họ là những con cá hanh vừa đánh bắt được. Họ cho biết mới đi đánh lưới bờ về. Lưới bờ là đánh lưới vùng ven bờ, khởi hành lúc 2-3 giờ khuya, 9-10 giờ thì về. Còn đánh lưới vời (xa bờ) thì nửa tháng hoặc 2–3 tháng/chuyến, đi xa tới biển Bạc Liêu, phía nam Phú Quốc (Kiên Giang), hòn Củ Tron (Phú Quốc) đánh các loại cá, ghẹ...

Tiếng cười nói râm ran khiến khung cảnh im vắng của dãy nhà trở nên sinh động. Bữa cơm trưa của chúng tôi quá ngon miệng với cá hanh chiên xù và canh chua cá hanh. Cá hanh gỡ bỏ vảy nhám và cứng, gắp thịt trắng tươi chấm muối ớt chanh ăn đã đời miệng lưỡi. Càng ngon hơn khi chủ nhà “chiêu đãi” rau rừng ăn kèm, gồm đọt sộp, cóc và bứa. Vị chát, chua của đọt cây hoang dã quyến luyến khẩu cái. Chúng tôi no cứng bụng vì hương vị biển rừng lạ lẫm với người thị thành. Mỗi phần ăn 35.000 đồng.

Cơm no, chúng tôi thả bộ thăm ngôi chùa duy nhất trên đảo. Vì có ngôi chùa Sơn Hải Tự mà người ta còn gọi xóm này là xóm Chùa. Chùa cặp sườn núi, xây dựng từ năm 1985 bằng gạch ngói, trùng tu kiên cố vào năm 1993, hiện do Đại đức Thích Huệ Tánh trụ trì.

Đường lên chùa là bậc cấp xi măng khá đẹp. Sân chùa không rộng nhưng thoáng đãng, mát mẻ trong bóng mát một số cây ăn trái và hoa kiểng. Biển xa xanh ngắt, gió lồng lộng thổi vào từng đợt, tiếng lá cây reo vang như bản nhạc không lời làm lòng lữ khách xuyến xao.

Xế chiều, từ nhà trọ, chúng tôi theo con đường xi măng đi xuyên qua hai dãy nhà đa số đều xây tường. Đập vào mắt chúng tôi là một bên đường có tấm bia chủ quyền đảo. Bia xi măng hình trụ vuông màu gan gà khắc tên các hòn và đảo thuộc quần đảo Bà Lụa, trong đó còn Hòn Heo, chữ mất chữ còn. Cuối con đường, cuối xóm nhà, theo con dốc bên trái là Miếu Bà. Bậc cấp xi măng dẫn lên miếu chừng năm chục thước.

Đứng đây nhìn xóm Đầu Trên xinh đẹp nằm sát biển xanh ngút ngát với những chiếc tàu im lìm chờ chuyến khơi xa. Ông từ Cao Thanh Hồng cho biết miếu có trước năm 1954, tái thiết năm 1985. Trước miếu đúc hình chiếc tàu biển ghi dòng chữ Tàu Bà Nam Hải với tượng Bà và con rồng, cầu mong Bà cứu độ ngư dân ra khơi được an toàn, thu hoạch nhiều... Ngày vía Bà được tổ chức long trọng với heo quay, phục vụ văn nghệ, hát bội, có năm tổ chức múa bóng hết sức xôm tụ.

Sụp tối, sau bữa cơm, chúng tôi thư thả uống trà, nghe kể chuyện Hòn Heo. Xưa kia, Hòn Heo do ông Tư Hạc làm chủ đảo. Về sau, thời Pháp thuộc, bà Lụa là vợ ông Lăn (Blanc, một quan chức người Pháp) đến định cư. Bà Lụa xây dựng chuồng trại bằng gạch, đá xanh và ô dước nuôi heo, đưa vào đất liền bán. Chính vì vậy mà hòn đảo này có tên Hòn Heo. Và những đảo bao quanh Hòn Heo được người ta gọi là Bà Lụa.

Đêm, nằm trong phòng trọ. 23 giờ điện máy tắt. Đèn bình sáng. Quạt bình quay vù vù vẫn không ngăn được nóng bức. Chúng tôi ai cũng bảo mình hấp tấp mướn phòng để chịu cảnh ngộ “bi đát” như vầy.

Vì, nếu có kinh nghiệm, lang thang dài xóm Đầu Trên sẽ được người dân thân tình mời ăn nghỉ tại nhà. Khi đó, nếu muốn thưởng thức hải sản rất tươi thì chủ nhà ai cũng sẵn sàng đáp ứng. Nào ghẹ, nào ốc nhảy, cá bóp, cá mú, cá hanh... Mặc sức thỏa thuê cái dạ dầy của bất cứ ai. Còn ở Miếu Bà cơm canh đạm bạc nhưng ấm tình của người đất đảo. Ngủ trong làn gió biển mát lành không khách sạn có sao nào sánh bằng Miếu Bà. Đánh một giấc sảng khoái, sáng hôm sau mướn ghe cá vượt khoảng 5 hải lý sang Ba Hòn Đầm “lội biển”, tham quan cảnh đẹp cũng là điều nhiều du khách trước đây đã từng. Sau đó quay lại Hòn Heo, lên tàu gỗ hoặc tàu cao tốc (có nhiều chuyến) về đất liền một cách thoải mái.

Để có một chuyến “phượt” thành công

Để một chuyến du lịch “bụi” đạt yêu cầu, nên có những bước chuẩn bị chu đáo. Đầu tiên là chiếc xe gắn máy phải được thay dầu nhớt, bơm bánh, căng sên, xem xét lại các loại đèn xe để tránh tình trạng “nằm đường”, ảnh hưởng đến giờ giấc cuộc hành trình.

Đồ cá nhân đem theo phải được tính toán thật chi li sao cho gọn nhẹ. Cho tất cả vào ba lô thật khoa học, gọn gàng, dễ lấy. Để quần áo không bị nhăn khi cho vào ba lô, nên cuốn tròn lại, đặt phần cuối ba lô. Hai bên hông ba lô là nơi nhét các vật dụng nhỏ, gọn, không sợ nhăn nhúm. Ba lô để nơi sườn xe. Nếu để phần yên sau thì phải buộc thật chặt, đề phòng rơi rớt dọc đường.

Phải theo dõi báo đài về tình hình thời tiết, nhất là khi đi tàu ra các đảo. Nếu gặp bão thì hủy chuyến đi.

Mùa mưa, phải có túi ni lông lớn trùm kín ba lô, dù là ba lô chống thấm. Đi núi, phải có giày vải phù hợp để không ảnh hưởng đến bàn chân. Mùa mưa cũng nên có chiếc áo ấm cổ cao để ngừa cảm lạnh và nhất thiết phải có chiếc áo mưa. Áo mưa để bên ngoài hành lý để nhanh chóng mặc vào khi có mưa. Áo mưa phải vừa kín vừa ấm. Không nên đem áo mưa cánh dơi vì cản gió rất khó đi. Phải có ủng để tránh cảm lạnh khi dầm mưa. Một chiếc mũ bảo hiểm có kính chắn gió là điều kiện tối ưu khi gặp mưa lớn.

Giày ẩm sẽ gây khó chịu, dễ khiến bị cảm lạnh. Vì vậy khi đến nơi nghỉ, nên có giấy báo cũ vò nhẹ nhét đầy vào lòng giày để hút ẩm.  Mùa mưa cũng là lúc nên đem theo máy sấy nhỏ để tiện trong việc sấy đồ bị ẩm.

Đi trên sông rạch, biển cả, những đồ điện tử như máy chụp hình, điện thoại cầm tay, laptop phải bọc kín trong túi ni lông, đeo bên mình. Nhớ mang theo sạc pin điện thoại, máy ảnh; pin dự phòng máy ảnh, thẻ điện thoại. Mùa nắng phải có kính chống nắng. Đi sông suối phải có dép. Nên có chiếc phích nhỏ đựng nước nóng để uống ấm người khi trời lạnh. Kẹo gừng là món giúp ấm một cách hữu hiệu...

Theo Phù Sa Lộc, Cát Lộc (báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Đầu năm, ra chùa Đục

(BCT) - Đi lễ chùa đầu năm là một trong những nét đẹp văn hóa của người Việt. Chùa Đục ở đảo Lý Sơn của tỉnh Quảng Ngãi được nhiều người dân địa phương và du khách xa gần tìm đến không chỉ bởi ý nghĩa tâm linh mà còn vì khung cảnh non xanh nước biếc. Người dân trên đảo tin rằng đây là nơi đức Quan Âm ngự để phù hộ và giữ bình yên cho vùng biển này.

Ngôi chùa tọa lạc ở lưng chừng miệng núi lửa đã "ngủ" hàng triệu năm nay. Người địa phương gọi là chùa Đục có lẽ bởi hàng trăm bậc thang gần như thẳng đứng khắc vào đá núi làm lối dẫn từ biển lên chùa. Từ chánh điện đến các bệ thờ hầu như đều được xây dựng trong hốc đá, hang đá. Đó chính là điểm đặc biệt của danh thắng tâm linh này.

Người dân miền biển vốn có đời sống tâm linh rất phong phú. Nằm ở vị trí tiền tiêu, quanh năm vật lộn với sóng biển, người dân đảo Lý Sơn càng tin vào đức Quan Âm. Ngay cổng vào chùa Đục là tượng Quan Âm cao đến 27 mét nhìn ra biển như để quan sát và giữ yên bình cho ngư dân mưu sinh trên biển.

Trên đảo Lớn, có khá nhiều đình, chùa, miếu... nhưng chùa Đục tọa lạc ở vị thế đẹp nhất và nổi tiếng linh thiêng. Chùa thu hút không chỉ người dân địa phương và du khách lớn tuổi mà cả du khách trẻ cũng tìm đến nơi này. Từ xa, ngôi chùa trông như ở chốn non bồng.

Chùa nằm trên vách núi xanh um. Đỉnh núi nhìn về phía Đông, là một mõm đá nhọn hoắc, cong vút chĩa thẳng lên trời như mũi thuyền khổng lồ của hải đội Hoàng Sa xưa. Đó là miệng của ngọn núi lửa. Đi theo lối lên chùa, du khách đến đỉnh núi và mở ra trước mắt là một cảnh sắc ngoạn mục. Đỉnh núi chùa Đục là một lòng chảo lớn- dấu tích của miệng núi lửa ngừng hoạt động. Nơi đây, cỏ cây xanh um quanh năm; nhiều nhất là cỏ tranh lao xao trong gió.

< Đỉnh Mũi Thuyền gần chùa Đục.

Từ đỉnh phía chùa Đục, du khách đi sâu xuống thung lũng rồi theo con dốc đá gần như thẳng đứng để chinh mục mũi thuyền của "hải đội Hoàng Sa".

Thật bỏ công vất vả, khi lên đến đỉnh, nhìn ra xa, trước mắt du khách là bãi biển dập dìu những con sóng; nhìn về phía chùa, phong cảnh càng thêm nên thơ. Trong quần thể những ruộng trồng tỏi, những mái nhà ngói rêu phong, ngôi chùa như một bức phù điêu khổng lồ, chạm trổ tinh xảo trên vách núi. Bên kia là vành của miệng núi lửa nhấp nhô, uốn lượn.

< Du khách tham quan Chùa Đục.

Nếu rộng thời gian, du khách có thể tìm đến những lão niên sống gần núi Giếng Tiền để nghe những câu chuyện hư hư thực thực quanh đảo. Người dân trên đảo thường truyền miệng nhau câu chuyện người Hời (cách gọi người Chăm cổ của người dân địa phương) đã chôn những kho báu trước khi rời đảo. Để bảo vệ kho báu, tránh tai mắt người đời sau, họ yểm bùa bằng cách chôn theo một trinh nữ cầm con dao và hóa châu báu thành ngựa vàng, cua vàng, gà vàng…


< Tượng Phật Bà nhìn từ đỉnh núi.

Ghi nhận của tộc họ Bùi trên đảo, năm 1545, ông Bùi Tá Hán đưa quân ra giữ đảo. Người Hời vốn không chịu sống chung với dân tộc khác nên bỏ về đất liền. Và câu chuyện kho báu xuất phát từ đó. Dân trên đảo vẫn thường kể cho nhau nghe đã từng có người thấy ngựa vàng phi nước kiệu trên bãi biển rồi mất hút hay bầy gà vàng kiếm ăn quanh quẩn trên đảo. Những câu chuyện như cấu như thế luôn hấp dẫn người dân địa phương và du khách. Ban đêm, bên tách trà, chén rượu trên đảo ngồi bàn tán về kho báu người Hời thì còn gì lý thú bằng.

< Miệng múi lửa đã ngủ yên phía sau Chùa Đục.

Một chuyến đi đầu năm thẳng theo hướng biển Đông và dừng lại trên đảo Lý Sơn viếng chùa Đục để cầu may và bình an theo tín ngưỡng của cư dân bản địa và vãn cảnh "mũi thuyền hải đội Hoàng Sa" thì còn gì bằng!

Chùa Đục còn có tên là Đỉnh Liêm Tự, nằm lưng chừng núi Giếng Tiền ở phía Đông của đảo Lớn thuộc huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Từ cảng cá Sa Kỳ, cách trung tâm thành phố khoảng 30 cây số, khách ngồi tàu cao tốc ra đảo, mất khoảng hơn một giờ. Nếu đi chuyển bằng tàu hàng, tàu cá, thời gian di chuyển gấp đôi. Từ cảng Lý Sơn, phải đi đường bộ hoặc đường biển khoảng 3 cây số mới đến được chùa.

Theo Ngọc Liên (Báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!

Chùa Đục, chùa Hang trên đảo Lý Sơn

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Thăm đảo Bà Góa – Bắc Kạn

Khi đi du lịch đến Hồ Ba Bể ở Bắc Kạn, bạn sẽ nhìn thấy trong hồ có hai hòn đảo nhỏ, một là đảo An Mã. Hòn đảo nhỏ còn lại lô nhô đá và cây xanh, cách bến chính khoảng 300m. Đây chính là đảo Bà Góa.

< Đảo Bà Góa nằm giữa lòng hồ Ba Bể.

Đảo Bà Góa (tiếng người địa phương gọi Pò Giả Mải) là một hòn đảo nhỏ xinh xắn nằm giữa hồ 1 (Pé Lèng) của hồ và được gắn liền với sự tích Ba Bể. Đảo là nơi thú vị để dừng chân cuối cùng trong chuyến du ngoạn và để chiêm ngưỡng cảnh đẹp lộng lẫy của trời mây non nước hòa quyện tạo nên cảnh sơn thủy hữu tình có một không hai của danh thắng này.

Đảo được tạo thành bởi những phiến đá to nhỏ xếp chồng lên nhau, cây cối trên đảo xanh tốt quanh năm, rễ cây buông xuống ôm lấy những phiến đá.

Nhìn từ xa, đảo như một hòn non bộ giữa mặt hồ. Trên đảo có bia đá khắc năm Khải Định thứ 9. Đây là hòn đảo nhỏ nhưng tuyệt đẹp với khu hệ thực vật phong phú như một điểm nhấn cho vẻ đẹp tự nhiên của cả một khu vực.

Truyền thuyết kể lại rằng ngày xưa vào dịp lễ hội Vô Giá trong vùng, dân bản Năm Mẫu thấy con bò lạc liền xẻ thịt chia nhau. Hai mẹ con bà góa nghèo cuối bản cũng được phần là chiếc đuôi và miếng da bé tẹo. Có bà lão ghẻ lở, rách rưới, hôi hám đến dự hội và xin ăn nhưng bị mọi người xua đuổi.

Đến cuối làng mới gặp được một căn nhà nhỏ của 2 mẹ con người đàn bà góa tốt bụng. Người ăn mày được tiếp đãi tử tế, mới bảo bà góa lấy trấu rắc quanh nhà. Đến nửa đêm mưa to gió lớn, người ăn mày biến mất, cả một vùng rộng lớn sụt xuống thành một cái hồ lớn nay gọi là hồ Ba Bể. Riêng ngôi nhà của 2 mẹ con là còn nguyên vẹn, thành cái đảo nhỏ này, nay gọi là đảo Bà Góa.

Đến đây, khách du lịch không nên bỏ qua cơ hội được ngâm mình trong làn nước xanh ngắt và mát lạnh của một bãi tắm mà thiên nhiên đã tạo dựng từ hàng ngàn năm qua, lại được che mát bởi các cây cổ thụ mọc trên đảo.

Du lịch, GO! tổng hợp

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014

Hòn Khoai đẹp nhất ở cực Nam

Hòn Khoai thuộc huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, nằm cách đất liền 14,6km, còn có tên gọi khác là Hòn Giáng Tiên, Hòn Giáng Hương hay Hòn Độc Lập.

Hòn Khoai là một cụm đảo nhỏ gồm các đảo Hòn Khoai, Hòn Tương, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi và Hòn Đá Lẻ, trong đó Hòn Khoai là đảo lớn nhất với diện tích 4,2km². Đây là một trong những hòn đảo đẹp nhất cực Nam Tổ quốc.

Thời Pháp thuộc, người Pháp đặt tên là đảo Poulob - Obi. Hòn Khoai là tên gọi dân gian của đảo. Tên gọi này được giải thích theo hai cách, trên đảo có nhiều khoai và đảo có hình dáng củ khoai.

Hòn Khoai là đảo đá, đồi và rừng còn gần như nguyên vẹn với nhiều loại gỗ quý, động thực vật phong phú, phong cảnh thiên nhiên hoang dã. Đất ở trên đảo là thứ đất feralit màu đỏ vàng và vàng đỏ phát triển trên đá granit. Rừng nguyên sinh trên đảo đa dạng, phong phú với hơn 1.000 loài thực vật và hàng trăm loài động vật.

Thực vật ở Hòn Khoai khá phong phú với các loại cây rừng nhiệt đới và có cả các loại cây rừng ngập mặn, có giá trị kinh tế rất cao. Cây ăn trái có xoài, quýt, dừa... Cây làm thuốc có quyết rồng, khoai mài, ngũ gia bì, quế quan… Cây lấy gỗ có bằng lăng, chiêu liêu, dầu rái, muỗng, lim, trám mạo, trâm trắng…

Bờ biển Hòn Khoai có nhiều long tu (rong biển hình râu rồng) đóng quanh những tảng đá. Loại rong này ăn rất mát và bổ.

Hệ thực vật trên đảo có khoảng 221 loài bậc cao thuộc 78 họ tạo nên một thảm thực vật phong phú, đa dạng. Đặc biệt trong hệ thực vật của đảo còn ghi nhận được 10 loài mới ở Việt Nam. Hệ động vật trên đảo có 29 loài thuộc 18 họ, gồm bò sát 7 loài, chim 20 loài, thú 2 loài. Động vật rừng còn tồn tại một số loài có giá trị và có số lượng cá thể đáng chú ý là kỳ đà, rắn mai gầm, rắn ráo, trăn hoa, sóc bụng xám.

Đặc biệt loài bản địa của đảo như sóc bụng xám, kỳ đà, trăn hoa... đã và đang phát triển rất mạnh về số lượng. Có thể nói, ở bất kỳ nơi nào trên đảo cũng có thể gặp chúng. Các loài chim bay giỏi thuộc họ chim ưng, cắt, chim én, nhạn cũng có nhiều. Xưa nay, ngư dân vùng Rẫy Chệc, Rạch Tàu, Rạch Gốc thường ra Hòn Khoai để lấy nước ngọt. Không hiểu vì đâu, từ một mạch đá, suốt đêm ngày chảy ra một dòng nước trong mát lạ lùng và ngọt như nước mưa.

Hòn Khoai có bãi biển rất nên thơ với rất nhiều đá cuội tròn như trứng ngỗng làm cho phong cảnh ở đây thật đẹp. Trên đỉnh cao nhất của Hòn Khoai có ngọn hải đăng do người Pháp xây dựng vào năm 1920. Ngọn hải đăng hình khối vuông mỗi cạnh dài 4m, cao 14,50m được xây bằng đá hộc và ximăng.

Hải đăng Hòn Khoai được xem là một trong những công trình đèn biển có mặt sớm nhất tại hải phận Việt Nam và là một trong những hệ thống đèn báo biển liên hoàn từ Cần Giờ đến Côn Đảo, Phú Quốc, tới Vịnh Thái Lan, phục vụ cho các tàu biển đi lại. Từ trên ngọn hải đăng, du khách có thể chiêm ngưỡng mũi đất tận cùng của Tổ quốc.

Muốn tham quan ngọn Hải Đăng, từ chân hòn, có hai hướng đi chính. Một là từ đồn biên Phòng 700 len qua những tàng cây cổ thụ, những dải núi đá với các khe suối chảy róc rách. Lần theo những con đường mòn để xuyên tới đỉnh. Hướng thứ hai, từ cảng Hòn Khoai đi theo đường trải nhựa mà những năm chiếm đảo, thực dân Pháp đã xây dựng con đường từ chân hòn lên đến đỉnh để thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển hàng hóa. Qua hằng thập kỷ con đường này vẫn còn nguyên vẹn, phục vụ rất lý tưởng cho khách tham quan đỉnh hòn.

Hòn Khoai không những là danh lam thắng cảnh của tỉnh Cà Mau mà còn là di tích cách mạng nổi tiếng ở miền Tây Nam Bộ. Tại đây, ngày 13/12/1940, người thầy giáo-chiến sỹ cách mạng Phan Ngọc Hiển đã chỉ huy nghĩa quân nổi dậy giết tên sếp đảo của thực dân Pháp, chiếm Hòn Khoai, ghi mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của quân và dân vùng đất cực Nam Tổ quốc.

Hòn Khoai đang phát triển để trở thành khu du lịch sinh thái. Năm 2009, tỉnh Cà Mau đã ban hành quyết định quy hoạch khu du lịch sinh thái Hòn Khoai. Khu du lịch sinh thái này đang mời gọi các nhà đầu tư thực hiện các dự án như khu trung tâm dịch vụ du lịch, khu vui chơi giải trí, cắm trại, nghỉ dưỡng, khu thể thao, bãi tắm trên biển…

Với đặc điểm khí hậu mát mẻ, phong cảnh đẹp, có rừng, có biển, Hòn Khoai luôn là điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước.

Du lịch, GO!

Khám phá Hòn Khoai

Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Suối Tranh ở Phú Quốc

Từ thị trấn Dương Đông, theo tuyến đường Dương Đông – Hàm Ninh khoảng 10 km là đến được Suối Tranh. Ở đây có phong cảnh thiên nhiên đẹp với hoa cỏ, núi rừng, biển và suối, là địa điểm tổ chức cắm trại, dã ngoại thú vị. Đến đây, du khách có thể dựng lều bên bờ suối để nghỉ ngơi và tham gia nhiều hoạt động dã ngoại đặc sắc.

Suối Tranh bắt nguồn từ dãy núi Hàm Ninh, do các khe nước nhỏ hợp thành, róc rách chảy trên núi, len lỏi qua biết bao rừng cây, gộp đá, thác ghềnh, với chiều dài khoảng 15 km. Con suối chảy hiền hoà bên những phiến đá nối tiếp nhau chạy dài xa tít...

Có đoạn suối chảy qua các ghềnh đá tạo nên những con thác nhỏ với làn nước mềm mại, trắng xoá… Có một lối mòn dọc theo bờ suối, đủ để hai người nắm tay nhau đi dưới tán rừng xanh mát.

Những bậc tam cấp trên lối đi vừa với mỗi bước chân nên du khách không có cảm giác mệt dù đang lên núi. Khung cảnh tựa như bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp (có lẽ vì thế mà người ta gọi là suối Tranh).

Suối Tranh được bao bọc bởi cây cối xanh tươi, hoa thơm cỏ lạ. Những chòm cây hình thù khẳng khiu rắn rỏi, thân cây ngả màu xanh xám, mọc chen vào đá, những nhánh phong lan bám vào thân cây, nơi năm ba nhánh nơi một vài chòm, hoa vàng, hoa trắng… trông như những hột cúc áo khâu thành chuỗi, dày thưa đậm nhạt treo lơ lửng giữa không trung.

Gần suối Tranh còn có nhiều hang động huyền hoặc, kỳ bí như hang Dơi nằm trên núi cao chừng 200 m, sâu đến 50 m, có nhiều thạch nhũ đẹp, lạ mắt.

Đến với Suối Tranh, du khách có thể tắm suối, hay tắm biển thoả thích. Hoặc cũng có thể tựa mình trên những phiến đá rêu phong, lắng tay nghe tiếng suối chảy, chim ca trong một không gian thật bình lặng, chợt nhớ đến lời ca Trong bài “Trăng mờ bên suối” của Lê Mộng Nguyên khá nổi tiếng:

“Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối, Rừng chiều mờ sương ánh trăng mờ chiếu….” thật cảm thấy nao lòng.

Năm 2008, người dân địa phương đã từng bắt được một con cá ở suối này giống với cá lóc đồng, trọng lượng gần 10 kg. Trên đầu con cá này có ba vết chấm, giống hệt những vết chấm huệ in trên đầu của các nhà sư. Lưng con cá uốn cong khiến cho cái đuôi lúc nào cũng nổi phều trên mặt nước. Hiện con cá do Ban quản lý ở khu du lịch Suối Tranh quản lý.

Cá đang được nuôi trong một bể xi măng, để phục vụ cho khách du lịch đến tham quan. Một du khách nước ngoài đã đến ngã giá khoảng 1.000 đô la Mỹ, nhưng khu du lịch quyết định không bán, giữ lại làm cá cảnh. Người quản lý con cá lóc cho biết: “Mấy chục năm nay trên đảo nước mặn Phú Quốc này mới bắt được con cá lóc nước ngọt lớn và kỳ lạ đến vậy”.

Theo Du lịch Phú Quốc
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2014

Đỗ Bá và bản đồ Hoàng Sa đầu tiên

Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư
(BĐN) - Ông là người Việt Nam đầu tiên vẽ bản đồ Hoàng Sa, góp phần vào những chứng cứ khẳng định chủ quyền của Việt Nam về quần đảo này. Ông còn có tên là Đỗ Bá Công Luận hoặc Đỗ Bá Công Đạo, quê ở xã Bích Triều, huyện Thanh Mai (nay là xã Bích Giang, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An), ông sống vào cuối thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII.

Đầu năm 1672, niên hiệu Dương Đức đời Lê Gia Tông, ông thi đậu Giám sinh, sau được bổ làm Tri huyện Thạch Hà, được phong tước Đoan Triều Nam. Làm quan được một thời gian, vào khoảng năm Chính Hòa (1680 - 1705), ông từ quan, giả dạng người buôn sông Lam, vượt vùng biển Thuận Quảng (nay là dải đất từ Quảng Bình đến Phú Yên), qua các nước Chiêm Thành, Chân Lạp, xem xét núi sông, đường biển xa gần, vẽ bản đồ mang ra Bắc, hiến kế Nam chinh mở rộng biên cương.

< Bản đồ đường qua xứ Quảng Nam đời Lê theo Thiên Nam Lộ Đồ vẽ lại năm 1741.

Chúa Trịnh Cán rất mừng, mang bản đồ cất đi. Lại trưng dụng ông soạn vẽ cho “Tứ chí lộ đồ” hay còn gọi là bộ sách Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư. Trong sách có ghi chép và vẽ bản đồ về Bãi Cát Vàng (tức đảo Hoàng Sa) và khẳng định đảo này thuộc về Đại Việt.

Đây là sách ghi chép và bản đồ đầu tiên khẳng định quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Tập “Tứ chí lộ đồ” do Đỗ Bá Công Đạo vẽ có: 53 phủ, 181 huyện, 49 châu, 14 làng, 8.992 xã, 205 thôn, 335 trang, 451 sách, 43 sở, 442 động, 41 trại. 67 phường, 10 vạn, 8 nhà, 2 tuần, 1 quan, 2 giác, 15 nguyên, 15 châu. Riêng Thuận Hóa có 2 phủ, 8 huyện, 4 châu, Quảng Nam có 3 phủ 9 huyện. Trong tập bản đồ này có rất nhiều thông tin về chủ quyền lãnh thổ quốc gia, đặc biệt là bản đồ quần đảo Hoàng Sa.

Hiện “Tứ chí lộ đồ” đang được lưu giữ tại Viện Hán Nôm Việt Nam. Trong “Tứ chí lộ đồ” có quyển “Đường từ phủ Phụng Thiên đến Chiêm Thành” có phần vẽ và chú giải bằng chữ Nôm về hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa ngày nay như sau:

< Hồng Đức bản đồ (1774). Đây là bản đồ vẽ rõ địa thế xứ Đàng Trong cuối thế kỷ 18, từ Đồng Hới đến biên giới Cao Miên, do Đoàn Quận công Bùi Thế Đạt vẽ dâng lên Chúa Trịnh năm 1774 để phục vụ chiến dịch Nam tiến năm 1775. Trên bản đồ, Bãi Cát Vàng được vẽ ở ngoài khơi phủ Quảng Ngãi.

“Ở khu vực phủ Thăng Hoa và phủ Quảng Ngãi phía ngoài biển hình bãi cát kéo dài từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Kỳ với tên gọi Bãi Cát Vàng.
Và ghi rõ: “... hai núi, mỗi núi đều có mỏ vàng, có cơ quan tuần sát. Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng. Dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển. Từ cửa biển Đại Chiêm đến biển Sa Vinh, mỗi lần có gió Tây Nam, thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy; gió Đông Bắc thì thương thuyền chạy ở ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả. Hàng hóa thì đều để nơi đó.

< Đây là một trong những bản đồ trong sách "Phủ biên tạp lục" lo Lê Quý Đôn (1726-1784), một nhà bác học Việt Nam, biên soạn năm 1776. Lê Quý Đôn mô tả tỉ mỉ tình hình địa lý, tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa và công việc khai thác của Chúa Nguyễn đối với hai quần đảo này.

Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn. Từ cửa Đại Chiêm vượt biển đến đấy thì phải một ngày rưỡi. Từ cửa Sa Kỳ đến đấy thì phải nửa ngày. Chỗ bãi cát dài ấy cũng có đồi mồi. Ngoài cửa biển Sa Kỳ có một hòn núi, trên núi sản xuất phần nhiều là cây dầu, gọi là Trường dầu, có đặt quan tuần sát...
Nho sinh trúng thức họ Đỗ Bá, tự Đạo Phụ phủ ở Bích Triều (Thanh Giang) biên soạn”.

< Đây là bản đồ nước Việt Nam thời Nguyễn vẽ khoảng năm 1838. Trên bản đồ có ghi hai tên “Hoàng Sa” và “Vạn Lý Trường Sa” thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Bãi Cát Vàng là tên gọi nôm na mà nhân dân xứ Đàng Trong đặt cho 2 quần đảo san hô, chuyển sang âm Hán Việt là “Hoàng Sa”, “Hoàng Sa chử”. Tên gọi “Hoàng Sa”, “Hoàng Sa chử” được thông dụng trong các văn kiện thời Lê và thời Nguyễn, như trong Đại Nam Thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam nhất thống toàn đồ, chỉ chung cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ngày nay. Đây là một tập tài liệu quý giá chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.

“Tứ chí Lộ đồ” là một tài liệu chính thức của quốc gia, phản ánh cương giới xứ Đàng Trong do chúa Nguyễn quản lý từ cuối thế kỷ XVI, đã mở rộng ra vùng quần đảo ở Biển Đông. Đây là một trong những chứng cứ quan trọng khẳng định chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông, đặc biệt là 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Thành phố Đà Nẵng đặt tên ông cho con đường có dài 340m, rộng 10,5m, từ đường Trường Sa đến đường Lê Quang Đạo ở khu tái định cư phía Đông Xưởng 38 và 387, thuộc phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, theo Nghị quyết số 42/2013/NQ-HĐND ngày 11-7-2013 đã được thông qua tại kỳ họp thứ 7 của HĐND thành phố Khóa VIII diễn ra vào trung tuần tháng 7 vừa qua.

Theo Viên Đình Phong (báo Đà Nẵng)
Du lịch, GO!

Bản đồ Hoàng Sa chủ quyền của Việt Nam qua các thời kỳ

Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2014

Về Cồn Ốc - Bến Tre

Cồn Ốc (còn gọi là cồn Hưng Phong) thuộc xã Hưng Phong - huyện Giồng Trôm cách thành phố Bến Tre khoảng 12 km đường bộ, là một cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông (có chiều dài 8,3km, rộng hơn 1km). Cồn có diện tích tự nhiên là 647 ha với hơn 500 nhân khẩu.

< Bến đò Cồn Ốc.

Vào khoảng đầu thế kỷ XIX, Cồn Ốc mới có người đến khai phá và định cư. Từ một cồn nhỏ và thấp ban đầu, nhiều loại ốc bám vào các giống cây ngập nước trên nền phù sa và sinh sôi nảy nở nhanh chóng và sau này trở thành một nguồn lợi đáng kể của dân địa phương - Do đó cồn được đặt tên là Cồn Ốc.

< Một góc sông nước Cồn Ốc.

Cồn Ốc ngày nay hấp dẫn bởi những vườn cây ăn trái, khung cảnh thiên nhiên sông nước hữu tình.

Cồn có rừng dừa xanh thẳm với một bộ sưu tập các loại dừa phong phú, có nhiều làng nghề truyền thống như sản xuất thủ công mỹ nghệ dừa, đan giỏ cọng dừa. Cuộc sống nông thôn bình dị và yên bình, là điểm tham quan hấp dẫn du khách thập phương.

Đến Cồn Ốc - Hưng Phong, khách như được tìm về với sự ngọt ngào của đất, của tình người tha thiết như người con xa quê nay được trở về với quê hương yêu mến. Xứ đảo với biết bao vẻ đẹp dịu dàng, như tấm thảm xanh trải dài xuôi theo dòng sông Hàm Luông thơ mộng.

Do vậy, Cồn Ốc là một trong những địa danh khơi dậy nguồn cảm hứng dạt dào của các văn nghệ sĩ, hình ảnh của những vườn cây xanh trĩu quả với nhiều chủng loại trái cây ngon: Cam, bưởi, xoài,… những dòng sông, hàng dừa, bến phà và những con đom đóm lập lòe trên những nhánh cây bần trong đêm hay đêm trăng trên sông cũng đủ làm nên những tác phẩm lãng mạn, đậm nét văn hóa miệt vườn của vùng đồng bằng Nam Bộ.

Từng con đường làng nhỏ, những hàng dừa nước đung đưa trong gió, những con rạch nhỏ ngoằn ngèo với hai bên là hàng dừa nước, dòng nước chảy êm đềm như một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Hưng Phong thật sự là một điểm du lịch làng quê sông nước đặc trưng hấp dẫn như có sức hấp dẫn kỳ lạ, níu chân biết bao du khách mọi miền đất nước khi về Bến Tre xứ dừa. Đã đến cồn Ốc - Hưng Phong một lần, khách sẽ bị cuốn hút bởi nét đẹp dân dã của một vùng sông nước và những vườn cây ăn trái sai trĩu quả và xứ cồn sẽ trở thành một quê hương thứ 2 với nỗi da diết đến khó tả.

Xứ đảo là nơi giàu truyền thống cách mạng trong kháng chiến, là vùng đất “địa linh nhân kiệt” đã làm lay động hàng triệu con tim của những người con quê hương Đồng Khởi trong những năm kháng chiến. Hình ảnh người phụ nữ tên Trần Thị Kế đã đi vào lịch sử đấu tranh hào hùng của quân và dân Bến Tre với câu nói bất hủ: “Chồng con tao ở trong tim tao, bọn bây cứ mổ ra mà lấy”. Tác giả Công Tương (Nguyễn Tấn) đã đem câu chuyện mẹ Trần Thị Kế sáng tác thành nhạc phẩm mang tên “Uất hận dâng trào”. Bài hát được lưu truyền trong vùng giải phóng suốt thời kháng chiến chống Mỹ tạo nên một khúc nhạc hào hùng về tinh thần đấu tranh chống quân xâm lược.

Đến Hưng Phong, du khách sẽ đến tham quan và giao lưu với Ông Đỗ Thành Thưởng thuộc ấp 2 - xã Hưng Phong, người đầu tiên trong tỉnh ra công sưu tầm và lưu giữ trên 20 giống dừa xiêm, dừa ta các loại như: Dừa dứa, dừa xiêm xanh, dừa tam quan, dừa ẻo, dừa bung, dừa dâu,…góp phần tạo nên sự đa dạng cho các giống dừa ở Việt Nam. Đến đây, du khách sẽ được tham quan vườn dừa đặc chủng, thưởng thức nước dừa tươi mát tại vườn, được “Vua dừa” chia sẽ những kinh nghiệm trồng dừa và thưởng thức các món ăn dân dã đồng quê, mà lòng người mến khách xứ đảo thiết đãi cho du khách. Chắc chắc rằng, sau khi rời khỏi nơi đây du khách sẽ mãi lưu luyến với nhiều kỉ niệm khó quên trong chuyến tham quan cồn Ốc này.

Hiện nay xã có trên 700 hộ chuyên sản xuất các mặt hàng giỏ cọng dừa, sản phẩm làm ra rất đẹp mắt dùng để cắm hoa, làm giỏ quà tặng, sản phẩm được thương lái ký hợp đồng tiêu thụ ở trong và ngoài nước. Hằng năm, làng nghề cung cấp cho các tỉnh, thành lên đến hàng chục triệu sản phẩm giỏ cọng dừa và gần hàng trăm mặt hàng mỹ nghệ được sử dụng nguyên liệu từ cây, trái dừa.

Hệ thống giao thông ở Cồn Ốc đã được đầu tư nâng cấp tạo nhiều điều kiện thuận lợi để du khách đến với nơi đây. Năm 2011, xã được chương trình nguồn vốn biến đổi khí hậu tỉnh đầu tư hơn 70 tỷ đồng để xây dựng tuyến đê bao Hàm Luông, giúp ngăn mặn và làm lộ giao thông. Những con đường đã tạo nên một vòng xoay quanh cồn để du khách có thể ngắm cảnh đẹp miệt vườn. Trong chương trình tour tham quan trên sông MeKong, Cồn Ốc - Hưng Phong sẽ là điểm dừng chân cuối cùng của khách du lịch trong hành trình khám phá du lịch Bến Tre.

Cồn Ốc với nhiều điều kiện để phát triển du lịch sinh thái cộng đồng, với dự án xây dựng khu du lịch sinh thái được quy hoạch thành các khu vực như: Khu ẩm thực, nghỉ dưỡng, sản xuất thủ công mỹ nghệ và sinh hoạt văn hóa - giải trí. Chắc chắn trong một tương lai không xa thì du lịch Cồn Ốc - Hưng Phong sẽ là điểm đến lý tưởng cho du khách khám phá du lịch sông nước miệt vườn Bến Tre, với những nét đẹp văn hóa truyền thống và cảnh đẹp thiên nhiên đủ để “níu chân” những ai đến đây.

Cồn Ốc - Hưng Phong với vẻ đẹp giản dị, luôn mang trong mình nhiều nét đẹp quyến rũ của một vùng quê sông nước miệt vườn. Đến với cồn Ốc du khách sẽ trải nghiệm du lịch sinh thái miệt vườn với biết bao điều thú vị.

Du lịch, GO! tổng hợp
 

Sample text

Sample Text

Sample Text

 
Blogger Templates