Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn Xem cho biết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xem cho biết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Về Cà Mau ăn mắm ong rừng

(TTO) - Biết tôi thích khám phá ẩm thực, nhân chuyến về Cà Mau thăm quê, bạn tặng cho một hũ mắm ong rừng. Cầm món quà, tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú vì từ trước tới nay chỉ biết mật ong rừng nổi tiếng ở địa phương này còn mắm ong rừng thì đúng là quá xa lạ.

Tò mò, không “giấu dốt”, tôi liền hỏi bạn cách chế biến cũng như việc thưởng thức món ăn quá đỗi lạ lùng này. Thấy tôi “hai lúa” thứ thiệt, bạn hào hứng kể ngay.

Ở Cà Mau, cứ đến mùa ong mật, người dân gác kèo ong dùng dao bén cắt phần tổ vắt lấy mật. Trong tổ có những con ong còn non bé xíu mũm mĩm, mềm béo thơm ngon.

Quanh đi quẩn lại xưa nay chỉ biết nấu cháo, xào mỡ hay kho khô... Ăn hoài cũng ngán nên nhiều người nghĩ ra cách chế biến món ăn mới cho lạ miệng, “lai rai” cho đỡ buồn, chưa kể dự trữ được lâu hơn. Thế là món mắm ong ra đời.

Làm mắm ong rừng không khó, chỉ cần lựa những con ong còn non, không giập chảy sữa rửa sạch, để ráo. Cho ong vào hũ cùng một ít muối, canh đừng để quá mặn, và đậy nắp lại đem ra phơi nắng vài hôm.

Khi thấy ong và muối ngấm đều, đổ ong ra trộn đều cùng thính cho có mùi thơm và cho vào hũ lại. Gài chặt phía trên bằng những cọng dừa tươi chuốt mỏng, đậy nắp kín và đem ra nắng phơi khoảng một tuần. Khi thấy thịt ong ngả màu vàng nhạt là đã ăn được.

Là món ăn "chạy" bữa, chỉ cần nồi cơm thì bất kỳ lúc nào cũng có ngay bữa ăn ngon lành. Nhưng muốn thưởng thức mắm ong rừng “đúng điệu miệt vườn” thì phải chuẩn bị những nguyên liệu chính như thịt ba rọi, nước dừa tươi, chuối chát, dưa leo, lá cóc, gừng, ớt, ngò rí…

Đầu tiên, cho nước dừa vào nồi luộc thịt ba chỉ cho chín, xắt miếng nhỏ. Chuối chát, dưa leo xắt miếng, gừng xắt sợi. Tiếp đến, cho mắm ong cùng thịt ba rọi, gừng vào trộn đều để ra dĩa, xung quanh dĩa là chuối chát, dưa leo, lá cóc non, điểm xuyết vào đó là một vài lát ớt sừng chín cùng ngò rí cho có màu sắc bắt mắt, dọn ra bàn là xong…

Dùng đũa gắp miếng mắm ong rừng kẹp thêm miếng dưa leo, chuối chát, lá cóc cho vào miệng nhai chậm rãi sẽ cảm nhận vị mềm béo, thơm của ong, chua nhẹ của mắm và lá cóc, chát chát của chuối, giòn giòn của dưa leo… cùng mùi thơm đặc trưng của thính lan tỏa.

Không chỉ ngon cơm, mắm ong rừng để nhắm với rượu đế càng "bắt". Dân xứ này chỉ cần vậy là đã có một món để lai rai bạn bè.

Nếu có dịp đến Cà Mau, mời bạn hãy khám phá món ăn đặc trưng và không kém phần “độc đáo” nơi vùng đất tận cùng Tổ quốc thân yêu này.

Theo Thanh Tâm (Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Chuyện 'khó đỡ' khi tác nghiệp vùng cao

(ĐSPL) - Làm nghề phóng viên, nhà báo bởi sự bí ẩn, hoang sơ đã tạo nên sức hút muôn đời. Nhưng cũng chính vì nét văn hóa khác biệt, những phong tục truyền thống đầy bản sắc riêng ở nơi này đôi khi đã đẩy chúng tôi vào những tình huống "dở khóc dở cười" không thể nào quên.

Rượu bất khả từ!

Vì khí hậu quanh năm mát mẻ, thường rất lạnh vào mùa đông cho nên hầu hết những người dân sinh sống ở vùng cao không kể già trẻ, gái trai đều uống rượu rất giỏi, đặc biệt là các chị em phụ nữ. Bởi nhu cầu sử dụng rượu rất lớn cho nên thông thường ở đây, nhà nào cũng ủ ngô, ủ sắn để tự nấu rượu cho gia đình.

Nhờ những bí quyết lên men, cất rượu được truyền lại qua nhiều đời, rượu của họ luôn có vị thơm ngon của núi rừng, ngào ngạt hương đồng gió nội, uống đến đâu biết đến đấy.
Trong khi đó, dân miền núi lại thật thà, mến khách, đặc biệt là cán bộ miền xuôi cho nên bao nhiêu rượu ngon, rượu quý đều mang ra thết đãi, làm sao cho khách phải uống đến say mềm, có thể vắt lên lưng ngựa như vắt một sợi bún họ mới hả hê vui sướng vì đã làm khách vui.

Đã đi nhiều nơi, đến với nhiều đồng bào ở vùng sâu, vùng xa nhưng tôi "nể" nhất là kiểu uống rượu của người Nùng An ở Cao Bằng. Có truyền thống nấu rượu ngô vừa ngon, vừa nặng nhưng lại có phong tục uống rượu bằng... ca. "Quái" hơn nữa là trong bất cứ một mâm rượu nào, dù có bao nhiêu người đi nữa, họ cũng chỉ dùng một chiếc ca để uống luân phiên theo một vòng tròn. Ca rượu luôn được chủ nhà rót đầy tràn rồi chuyển đến từng người, đến phiên ai, người đó phải uống hết ca rượu để lại chuyển sang cho người khác. Kiểu uống rượu này khiến người ta không thể từ chối hay lưỡng lự vì nếu như vậy sẽ bắt người khác phải chờ đợi và chỉ có thể uống hết chứ không thể bớt lại dù chỉ là chút "long đen".

< Phụ nữ người H'Mong ngồi vệ đường uống rượu bằng bát. Không có đồ nhắm, mỗi lần uống hết cả bát, khi thấy khách du lịch đi qua họ mời. Nếu "lỡ tay" chạm vào bát thì phải uống hết.

Trong một lần lên bản người Nùng An ở Quảng Uyên (Cao Bằng), tôi đã được mục sở thị sự mến khách của người dân nơi đây. Xế trưa, chúng tôi tìm đến nhà trưởng bản nhưng ông đi vắng chỉ có vợ ở nhà. Sau khi tay bắt mặt mừng mời khách yên vị trên chiếc chiếu trải giữa sàn, vợ trưởng bản mất hút sau tấm ri đô màu đỏ, lát sau khệ nệ bưng ra một bình rượu lớn, một chiếc ca lớn và một chiếc bánh khảo lớn. Từ xa chúng ta đã kịp nhận ra hương rượu thoang thoảng như muốn làm say ai đó.

Nhìn ca rượu to gần bằng loại cốc uống bia, chúng tôi chỉ biết ái ngại nhìn nhau thầm ước giá như nó có thể nhỏ hơn một chút nhưng với ánh mắt, nụ cười thắm thiết của gia chủ, ai nấy đều hiểu rằng đây là rượu tình rượu nghĩa cho nên không thể chối từ. Ca rượu được truyền đi vừa hết một vòng cũng là lúc rượu trong bình vơi đi phân nửa.

Nghĩ rằng chỉ cần uống hết bình rượu ấy là xong nên mọi người nháy nhau cố gắng trụ thêm một vòng. Ai ngờ, vừa uống hết vòng hai, khi nhóm phóng viên người nào người nấy đều đã có vẻ ngây ngất, chúng tôi lại thấy vợ trưởng bản mất hút sau tấm ri đô màu đỏ, lát sau trở lại với một bình rượu mới trong tay. Không biết vợ trưởng bản đã mất hút sau tấm ri đô đó bao nhiêu lần nhưng khi tỉnh dậy, tôi thấy cả nhóm phóng viên 5 người, 3 trai, 2 gái đều nằm cùng một chỗ trên một chiếc chiếu khác trải trên sàn còn chủ nhà thì có vẻ rất hài lòng vì những gì đã xảy ra. Sau đó, chúng tôi đã được khám phá bí mật sau tấm ri đô màu đỏ, là 3 chum rượu lớn như 3 cái chum đựng tương. Thế mới biết vì sao người ta thường nói muốn lên vùng cao, trước tiên phải học… uống rượu.

Ngủ thăm, ăn bốc

< Cách ăn cơm của người Ma Coong.

Có đến vùng cao mới biết cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở đây còn khó khăn đến mức nào. Ngược đường 20, lên bản Cà Roòng (Thượng Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình), chúng tôi đến thăm những bản làng của người Ma Coong nằm cheo leo trên đỉnh Trường Sơn hùng vĩ, đông nắng tây mưa.

Trong lúc lang thang trong bản khi bà con đang lục tục thổi lửa nấu bữa cơm chiều, tôi tình cờ bắt gặp một đứa bé trai tầm 8 tuổi có lẽ vừa đi câu về, cẩn thận tháo chiếc giỏ tre bên hông, rồi đổ tất cả vào một cái nồi mà mẹ nó đang đun trên bếp. Thì ra họ đang nấu món canh cá. Tôi hỏi cậu bé: "Sao không rửa cá đi rồi hãy cho vào nấu?". Cậu hồn nhiên trả lời: "Cá bơi cả ngày trong nước rồi thì rửa làm gì nữa?".

Tối hôm ấy, chúng tôi cũng được chủ nhà thết đãi một món canh cá giống như tôi đã thấy lúc chiều. Trong đó có đủ cá to, cá bé, tôm, ốc và thậm chí cả nòng nọc... Nói chung, câu được cái gì, họ đều cho hết vào nồi canh. Ngoài ra, bữa tối còn có thêm một đĩa ếch, nhái. Cơm được đựng trong một chiếc rá tre cùng vài chiếc thìa nhỏ nhưng chẳng ai dùng đến chúng vì hầu hết mọi người đều dùng tay bốc.

Mặc dù rất đói nhưng nhớ lại cách chế biến món canh cá mà tôi đã nhìn thấy lúc chiều, bỗng thấy một cảm giác vô cùng khó tả, không ăn cũng không được mà ăn thì...

Người Thái ở Mường Lát, một huyện miền núi còn nhiều khó khăn của Thanh Hóa có tục ngủ thăm nổi tiếng từ xa xưa. Trai gái đến tuổi cập kê có thể tìm hiểu nhau bằng cách con trai cậy cửa nhà bạn gái ngủ thăm. Tục lệ này ngày nay tuy không còn giữ được những nét đẹp thuở ban đầu của nó nữa nhưng vẫn chưa mất đi trước sự lấn át mạnh mẽ của lối sống hiện đại. Trong một lần đi công tác ở Mường Lát cùng đoàn phóng viên 3 người, sau một ngày trèo đèo lội suối vất vả, mấy anh cán bộ thị trấn nhiệt tình rủ chúng tôi đi uống nước ở một quán cafe rất lãng mạn nằm bên bờ sông Mã.

Gần khuya, các cán bộ đưa chúng tôi về nghỉ ở nhà khách. Nhưng được nửa đường, tôi bỗng thấy anh cán bộ chở mình đột ngột tách đoàn, rẽ sang một lối khác vừa dốc vừa tối om. Mặc dù trong lòng chồng chất những mối nghi hoặc, lo lắng nhưng tôi vẫn cố giữ điềm tĩnh và nghĩ: "Có lẽ anh ta chỉ muốn thử bản lĩnh của nữ phóng viên một chút?". Không ngờ anh ta cứ thế đi thẳng, chẳng có dấu hiệu sẽ quay trở lại.

Trước khi tôi kịp lên tiếng thắc mắc thì anh ta đã dừng lại trước một ngôi nhà sàn nhỏ, quay lại bảo: "Tối nay, mình ngủ thăm với nhau nhé!". Nghe xong, tôi chỉ muốn thét lên một tiếng sợ hãi nhưng đã kìm lại được. Đang loay hoay nghĩ cách từ chối thì chuông điện thoại của cả hai reo vang. Thì ra các đồng nghiệp đang nháo nhác tìm tôi còn các cán bộ thị trấn cũng đang nháo nhác tìm anh ta. Anh ta không còn cách nào khác là phải đưa tôi về nhưng trên đường đi cứ nài nỉ đòi vào phòng tôi... ngủ thăm.

Theo Dương Dung (Đời Sống Pháp Luật)
Du lịch, GO!

Lễ hội Lăng Ông Dung Ngọc Hầu

(TBKTSG) - "Nhớ về thăm lại Trà Ôn, tháng Giêng mùng 4 giỗ Ông Ngọc Hầu!” là lời nhắn nhủ mọi người dân khu vực nầy nhớ đến tham dự lễ hội Lăng Ông Tiền quân Thống chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn tại thị trấn Trà Ôn tỉnh Trà Vinh. Đây là lễ hội đầu năm duy nhất diễn ra ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

< Ao sen trước sân lăng Ông.

Lễ hội diễn ra liên tục trong ba ngày ba đêm, bắt đầu từ sáng mồng 2 tết Nguyên đán hằng năm. Phần lễ trang trọng với nghi thức cổ truyền. Phần hội rôm rả với nhiều hoạt động mang đậm bản sắc văn hóa dân gian, nổi bật nhất là cuộc thi gói bánh tét - đặc sản đặc sắc của đồng bào lưu vực sông Cửu Long.

Ngày tết Nguyên đán, dù thiếu vật thực nào cũng được người dân nơi đây bỏ qua, nhưng nhất thiết phải có những đòn bánh tét cúng rước ông bà đón xuân mới. Ngày hội gói bánh tét có sự tham gia của đông đảo bà con địa phương, đều là những người giỏi tay nghề, biễu diễn nghệ thuật ẩm thực cổ truyền của gia đình mình trước sự dự khán của khán giả mộ điệu.

< Múa trống sa-dăm là bộ môn nghệ thuật của đồng bào Khmer biểu diễn trong buổi cúng Ông.

Các cuộc thi đấu bóng chuyền, các trò chơi dân gian: kéo co, đẩy gậy, đá bóng mù... cũng thu hút đông đảo bà con. Không khí càng thêm sôi động, rôm rã với lễ hội dâng bông. Dâng bông là cổ tục đẹp dành dâng cúng rước thần linh tại các đình vào những ngày lễ kỳ yên trọng đại trong năm. Trong tiếng trống, tiếng kèn, tiếng thanh la, não bạt rền vang, các bà đồng trong trang phục rực sỡ, trang điểm đẹp, liên tục biểu diễn nghệ thuật uốn dẻo và giữ thăng bằng. Tài nghệ điêu luyện của họ đã hớp hồn tất cả mọi người dự khán. Không khí buổi lễ trở nên êm đềm vào buổi tối với các buổi biểu diễn đờn ca tài tử của các câu lạc bộ văn nghệ “cây nhà lá vườn”.

Người xem hòa lắng hồn mình trong tiếng nhạc, điệu kèn, lời ca trong cung bậc ngũ âm dặt dìu quyến rũ. Rồi các đoàn lân nhào lộn ngoạn mục, rộn ràng trong tiếng trống thúc giục lòng người. Thống chế Điều bát là người dân tộc Khmer nên có năm đoàn nghệ thuật Khmer địa phương biểu diễn các điệu múa dân gian như múa rô-băm, múa trống sa-dăm, hát dù-kê... Cũng như các buổi cúng đình khác, đoàn hát bội ngày nào cũng trình diễn các vở tuồng, như Thạch Kim kê đả hổ”, Ngọc kỳ lân xuất thế, Tiêu Anh Phụng, Đào Tam Xuân ... Tất cả thể hiện bản sắc văn hóa cộng đồng các dân tộc Việt, Hoa, Khmer một cách hài hòa, thể hiện lòng dân rất mực tôn kính.

< Cổng Lăng Ông ở thị trấn Trà Ôn vào ngày hội.

Nguyễn Văn Tồn, được vua nhà Nguyễn ban chức Thống chế Điều bát, người Trà Ôn tôn gọi là “Ông”, “Ông Lớn”, lăng gọi “Lăng Ông”. Khu lăng mộ Thống chế Điều bát được xây dựng năm Canh Thìn (Minh Mạng nguyên niên, 1820), rộng khoảng 8.000 m2, cách thị trấn Trà Ôn 2km với nhiều cổ thụ quý như sao, dầu, dương, da cùng các loại hoa kiểng tạo không khí mát trong, thanh thoát.

Từ ngoài nhìn vào, tam quan và hàng rào quanh lăng Ông được xây dựng năm 1963, phục dựng năm 1994. Hai bên cổng có cặp liễn đối: “Huân danh chiếu nhật tự cập thiên thu / Đức nghiệp sơn hà tình thương tứ hải”, tạm dịch: “Muôn đời công danh sáng chói truyền tụng / Sự nghiệp với non sông yêu thương bốn biển”. Bên trong khuôn viên có bức bình phong vẽ hình long hổ. Trước chánh điện là võ ca và cột cờ cao 10 mét treo cờ soái. Võ ca xây dựng năm 1953 bằng vật liệu nặng, có 4 cột tròn. Các đầu mái võ ca trang trí hình đồng tiền bằng sành; mái lợp ngói âm dương, bên trên có tượng lưỡng long tranh châu, cặp cá hóa long. Hai bên cửa võ ca đặt tượng hai kỳ lân oai dũng. Nổi bật là tấm hoành phi sơn son thếp vàng với bốn đại tự “Hộ quốc an dân”.

< Đoàn lân Lăng Ông trổ tài trước sự háo hức dự khán của bà con.

Chánh điện rộng khoảng 200 mét vuông, có tứ trụ nâng đỡ tạo thành mái hình bánh ít, xuyên câu. Mái lợp ngói âm dương. Đầu mái có hoa văn đồng tiền sành. Trên nóc có đôi rồng chầu nhật nguyệt. Có ba cửa vào chánh điện. Bên trên cửa chính có bảng khắc chữ nổi “Mỹ Thanh hội quán”. Hai bên cửa có cặp liễn đối diễn tả ý nghĩa Mỹ Thanh: “Mỹ đức tất hữu lâm châu liên bích hợp / Thanh lý an nghiệp ngọc túy kim hòa năng” (Đất Thiện Mỹ luôn tốt đẹp như viên ngọc / Giồng Thanh Bạch được an cư lạc nghiệp).

Giữa chánh điện là bệ thờ các vị: Tả quân Lê Văn Duyệt, Bình Tây Đại nguyên soái Trương Công Định và Hồ Chủ tịch. Hai bên là lỗ bộ bằng đồng sáng bóng. Sau bệ thờ này là hương án thờ Ông Thống chế Điều bát, gồm một khánh chạm trổ rất tinh xảo, một tráp gỗ sơn son thếp vàng đựng sắc phong, một chân dung Ông Dung Ngọc hầu Tiền quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn. Trên đầu khánh thờ là tấm bảng chữ vàng “Cung thánh chúc”, hai bên có 2 câu đối: “Vạn cổ uy danh lưu vương khí / Thiên thu linh tích kiều anh phong” (Vạn năm còn uy danh tốt / Muôn đời là vị anh hào).

< Bàn thờ Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn.

Phía sau chánh điện là lăng mộ Ông Bà Tiền quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn, song táng theo kiểu “càn khôn hiệp đức”, được xây dựng năm 1820 có kết cấu bằng vôi và ô dước, mật ong, đường. Mộ Ông cao hơn mộ Bà. Trước mộ có tấm bình phong với hai câu đối: “Hoa di cộng ngưỡng / Mân Quảng đồng tri ân” (Người Hoa, người Khmer đồng ngưỡng mộ / Người Việt, người Hoa đều nhớ ơn). Vòng thành bao quanh mộ được xây dựng năm 1960, trên có các búp sen, tượng cá hóa rồng, lân quy cùng nhiều hoa văn sắc sảo. Phu nhân Thống chế Điều bát được trọng vọng như vậy là vì lúc sinh thời đã giúp chồng nhiều công việc binh cơ và làm nhiều việc nghĩa đối với nhân dân trong vùng như xây dựng chùa, miếu, cấp gạo, thực phẩm cho dân nghèo... Công đức như vậy nên bà được vua Minh Mạng ban mỹ tự Hiền thục phu nhân Thống chế đại quan chi thần vào năm 1828...

Người Khmer mang họ Nguyễn

Dung Ngọc hầu Tiền quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn tên thật là Thạch Duồng, sanh năm Quý mùi (1763) tại làng Nguyệt Lãng, xã Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, dưới thời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Ông là người Khmer, có tướng mạo khôi ngô, võ nghệ cao cường, tính tình cương trực. Vì vậy, Ông được Nguyễn vương phong chức cho trấn thủ ở Oai Viễn đồn (Trà Ôn) và đạo Trấn Giang (Cần Thơ), kiêm quân xuất hai phủ Trà Vinh và Mân Thít. Binh đoàn của Ông chiến đấu dũng mãnh, xuất sắc.

< Mộ Ông Bà Tiền quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn, song táng theo kiểu “càn khôn hiệp đức” thời nhà Nguyễn.

Năm 1787, Ông theo chúa Nguyễn Ánh chạy sang Vọng Các (Bangkok, Thái Lan) tránh quân Tây Sơn. Năm sau, Ông trở về nước, theo Lê Văn Quân đánh Tây Sơn ở bảo Ba Lai. Khi chúa Nguyễn Ánh trở về nước, Ông được phân công trở về Trà Vinh, Mân Thít chiêu mộ dân binh, được giao quyền làm Nội thuộc Cai đội Thống quân, đóng đồn tại Cầu Kè, Trà Ôn, tiến hành khai khẩn đất hoang trồng trọt hoa màu.

Năm 1810, Cao Miên xảy ra nội chiến, quân Xiêm nhân cơ hội xâm lấn bờ cõi xứ nầy, Ông phụng lệnh triều đình theo đại quân Thoại Ngọc Hầu sang chiến đấu với quân Xiêm ở thành Lavek (Cao Miên). Thắng trận, uy danh Ông vang lừng và được ban ở lại trấn thủ thành Nam Vang với trọng trách bảo hộ xứ Cao Miên. Một thời gian sau, Ông được trở về trấn thủ Trà Ôn, Cầu Kè. Dịp nầy, Ông cùng dân binh ra sức khai hoang mở đất. Năm Gia Long thứ 10 (1811), Ông được triệu về kinh nhận ban thưởng và được thăng hàm Thống chế, tước Dung Ngọc hầu. Năm 1819, Ông được triều đình bổ vào chức Điều bát nhung vụ, dẫn một đoàn dân binh Khmer đến Châu Đốc để cùng Thoại Ngọc hầu, Tuyên Trung hầu lo việc đào kinh Vĩnh Tế dài trên 100 km. Đây là con kinh có vị thế chiến lược vô cùng quan trọng về kinh tế và quân sự ở biên giới Tây Nam đất nước... Do có công lao to lớn, Nguyễn Ánh ban cho Ông “tứ danh” Nguyễn Văn Tồn.

Do lao tâm lao lực với đất nước, với nhân dân, ngày mùng 4 tháng Giêng năm Canh thìn (1820), Tiền quân Nguyễn Văn Tồn bị bệnh mất tại Trà Ôn. Triều đình Huế phái đại thần mang phẩm vật vào làm lễ tế với nghi thức long trọng trong 3 ngày. Ông được triều đình sắc phong Thành hoàng Bổn cảnh Trung dũng Thiên trực. Nhân dân Trà Ôn vô cùng đau xót, thương tiếc, tôn kính Ông như một bậc tiền hiền có công khai hoang mở cõi mảnh đất nầy. Năm 1828, vua Minh Mạng sắc phong Ông là Trung đẳng thần, hàm ân Trung dũng Thiên trực, tước Dung Ngọc Hầu.

Lăng Ông đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào năm 1996. Hằng năm, cứ vào ngày mồng 2, mồng 3 và mồng 4 tháng Giêng âm lịch là lễ giỗ ông được tổ chức rất trọng thể, quy tụ hàng vạn người dân xa gần đến cúng bái. Đây là ngày hội trùng vào dịp đầu xuân, vừa mang ý nghĩa cầu phước, vừa mang ý nghĩa văn hóa truyền thống dân gian. Lễ giỗ với các nghi thức cổ truyền: túc yết, chánh tế, tế tiền hiền - hậu hiền, xây chầu, đại bội và hát bội, tỏ lòng nhớ công lao tiền nhân trong bước đường khai hoang mở đất, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, là đạo nghĩa của dân tộc ta.

Theo Cát Lộc - Cúc Tần (The Saigon Times)
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Hát rối chùa Bi

(SGGP) - Bị quyến rũ bởi câu ngân nga của người xưa: Nhất vui là hội phủ Giầy/ Vui thì vui vậy, chẳng tày chùa Bi, tôi lặn lội về thành Nam. Thật thú vị, lại được chiêm ngưỡng một loại hình nghệ thuật độc đáo có sức sống gần 500 năm.

Độc nhất vô nhị

17 giờ, bà con làng trên xóm dưới đã đổ về đầy sân chùa. Mỗi người mỗi việc, người chuẩn bị lễ vật cúng thánh, phật, người lo quét dọn, người giăng đèn kết hoa, người bắc phông màn, trải chiếu, chuẩn bị trầu nước… Ai nấy tíu tít, hoan hỉ. Hôm nay phát tấu mà!

< Gác chuông chùa Bi.

Chùa Bi (còn gọi chùa Đại Bi) là ngôi chùa chung của 3 làng Vân Chàng, Giáp Ba và Giáp Tư, là một trong 4 ngôi chùa được xây dựng ở huyện Tây Chân (sau đổi thành Nam Chân) thuộc trấn Sơn Nam từ thời Lý (1010 - 1225), nay thuộc thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Chùa rộng 2.600m2 với hơn 60 gian, hầu hết bằng gỗ lim. Nhìn từ ngoài vào ta thấy chùa được nâng cao dần, kiến trúc hình chữ công (nội công, ngoại quốc), trông nguy nga đồ sộ. Hai dãy hành lang dài và thấp hai bên tả hữu càng tôn thêm vẻ đẹp của tháp chuông 2 tầng với 8 mái uốn cong mềm mại, tựa đóa sen đang nở.

Trong chùa lưu giữ nhiều cổ vật quý có từ thời hậu Lê: quả chuông cao hơn 2m, đỉnh đồng, khay, chén, đĩa… Một quần thể lăng mộ, am, tháp với kiến trúc đặc sắc; khung cảnh thiên nhiên trong lành, xanh tươi và khu chợ chùa tấp nập (ngoài việc đáp ứng nhu cầu giao thương hàng ngày của người dân quanh vùng; mùng 8 Tết, chợ còn họp phiên đặc biệt, dân quanh vùng mang đến đây từ nông cụ đến cây cảnh, đồ cổ… để buôn bán cầu may. Theo các bậc cao niên trong vùng, phiên chợ Viềng Nam Giang này ra đời trước và độc đáo hơn cả chợ Viềng phủ Giầy bên kia sông Đào) cũng tạo thêm nét duyên cho ngôi chùa cổ thanh tịnh và đã được Bộ VH-TT (cũ) xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa từ năm 1984.

Đại đức Thích Thanh Quyết, trụ trì chùa Bi, cho biết: Chùa thờ vị thánh tổ Từ Đạo Hạnh, con trai của ông Từ Vinh giữ chức đô sát đời vua Lý Nhân Tông. Từ Đạo Hạnh đã kết bạn với Không Lộ thiền sư ở chùa Không Lộ và Giác Hải thiền sư ở chùa Phúc Lâm. Ba người nghiên cứu pháp môn đà la ni và cùng nhau sang Tây Trúc (Ấn Độ) thỉnh kinh và được đức Phật tổ truyền cho tâm án, lục trí thần thông.

Để tưởng nhớ thánh tổ Từ Đạo Hạnh, vị thiền sư đã trụ trì ở chùa Bi, hàng năm, dân làng mở hội từ ngày 20 đến 24 tháng Giêng âm lịch. Trong suốt mấy ngày hội thường tổ chức tưng bừng rước kiệu, tế xuân và các trò vui chơi như đánh cờ, đấu vật, múa rồng, chạy đàn cầu an… Đặc biệt, suốt những đêm hội còn diễn ra các trò múa rối mà người địa phương quen gọi là trò hát rối hay ổi lỗi.

Đúng 19 giờ, trong tiếng chuông, trống, thanh la, mõ vang rộn, gần 20 ông lão mặc quần trắng, áo dài thâm, đội khăn lượt hoặc khăn xếp kính cẩn tiến vào hậu cung thắp hương, cúng lễ rồi mở hòm rước 12 đầu rối, gọi là thánh tượng, ra trước chánh điện. Trong làn hương thơm ngát của hương hoa, phẩm quả, các ông lần lượt xếp hàng trước tượng thiền sư Từ Đạo Hạnh, điều khiển những thánh tượng cúi đầu lạy thánh rồi tiến ra sân khấu. Sân khấu biểu diễn chỉ đơn giản là một bức rèm che cách điệu hình sóng nước được mắc vào hai cây cột giữa tiền đường trong chùa (gọi là dàn). Người múa rối, người hát, người gõ nhạc cụ đứng sau tấm màn, quay mặt về phía bàn thờ Phật và bàn thờ đức thánh Từ (thế nên mới gọi là múa rối hầu thánh).

Giáo trống rộn ràng báo hiệu đêm hát rối bắt đầu. Mỗi thôn có một bài giáo trống khác nhau, hay nhất là bài của thôn Giáp Ba. Rồi lần lượt đến mở hò, dâng cách, đọc kệ. Tiếp theo, 3 nhóm rối của từng làng (mỗi nhóm 10 người) ra hát chúc làng mình rồi cùng nhau đồng ca lời chúc mừng chung cho cả 3 làng, 3 xã được an lành, phú quý. Các bài hát có những âm điệu, giai điệu khác nhau nhưng đều hát vần ra theo nhịp 1/3 hoặc 2/7. Đặc biệt các lời đệm, lời đón đều dùng tiếng Nôm cổ, làm theo thể song thất lục bát hoặc lục bát: Là ôi là lễ lã lè lại là lèn; hồ la hồ hồ la la lải la lèn; là ôi là a a a ớ dô là vậy, là vậy hờ là là vậy; lê lê là… Nội dung của các bài hát đều mang ý nghĩa chúc phúc, ca ngợi quê hương đất nước tươi đẹp, ca ngợi những chiến công trong lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông xưa, nhắc nhở mọi người biết sống thủy chung, trọng lễ nghĩa…

Rối chùa Bi thuộc thể loại rối tay. Tượng làm bằng gỗ vàng tâm khoét rỗng, phủ sơn ta, với nét mặt được các nghệ nhân dân gian khắc họa khá kỹ lưỡng, thể hiện những tính cách khác nhau, được người dân gọi là thánh tượng. Bộ thánh tượng chùa Bi không chỉ có giá trị lịch sử, tâm linh mà còn giàu tính mỹ thuật, được đánh giá là bộ đầu rối đẹp nhất miền Bắc Việt Nam.

Nguy cơ mai một

Ông Đoàn Quanh (84 tuổi) tham gia phường rối từ năm 13 tuổi và giữ chân trùm phường (chánh trùm) suốt từ năm 1970 tới nay, cho biết: “Chính tên của trò này là hội tu kỳ lệ (răn đời bỏ ác làm thiện); sau này mới có thêm các tên là rối đầu gỗ, ổi lỗi, hát rối”. Căn cứ vào kinh văn (tức lời hát) có thể phỏng đoán trò ổi lỗi được kiện toàn hình thức và nội dung từ thời Lê sơ (cách đây khoảng hơn 450 năm).

Có bài ca ngợi về việc khôi phục đế đô, có bài ca ngợi đức vua (Lê), đức chúa (Trịnh). Còn lại, hầu hết bài ca có ý nghĩa giáo dục răn dạy đạo đức phong kiến tam cương, ngũ thường, đạo gia đình... Trong ca từ có rất nhiều lời cổ, ví dụ như hòa (chàng), nường (nàng), bường (bình)... Còn rất nhiều từ tối nghĩa (nghĩa cổ) các cụ hát được nhưng không hiểu...

“Rối đầu gỗ chùa Bi là một loại hình diễn xướng dân gian rất đặc sắc và độc nhất vô nhị trên đất nước ta. Ở chùa Cổ Lễ (Nam Định) thờ thiền sư Giác Hải còn giữ được một số đầu tượng rối giống như ở chùa Đại Bi nhưng kinh văn (lời hát) ở những nơi này đã mất và cũng không còn phường rối. Ở chùa Keo (Thái Bình) thờ thiền sư Không Lộ cũng có trò diễn bằng những đầu gỗ nhưng chỉ múa đơn thuần chứ không có các làn điệu hát phụ họa và nghệ thuật tạo hình các con trò cũng không đẹp mắt…”, GS-TS Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, nhận xét.

Nhưng từ hàng trăm năm nay, do gắn liền với lễ hội đậm màu sắc tín ngưỡng của chùa Bi nên chỉ được diễn vài ba lần mỗi năm vào những dịp hội xuân, giỗ thánh. Năm 2002, Bộ Văn hóa - Thông tin đã tài trợ kinh phí nghiên cứu và Viện Âm nhạc Việt Nam đã về chùa Bi ghi âm và quay lại toàn bộ chương trình biểu diễn của trò ổi lỗi để lưu giữ hình ảnh với mục đích bảo tồn. Nhưng nghiên cứu của viện cũng chỉ chú ý về mặt diễn xướng và âm nhạc, không tìm hiểu sâu về nguồn gốc và lý do của trò ổi lỗi.

Tại chùa Đại Bi đang lưu giữ 2 bộ tượng rối, một bộ được làm năm 1957 dùng để tập, bộ còn lại có niên đại cao, mang nhiều giá trị lịch sử nhưng chưa có phương án bảo quản hữu hiệu để chống mối mọt. Hiện nay nơi lưu giữ tượng nằm sau chính điện thờ, ẩm thấp và thiếu ánh sáng. Nhiều đầu rối đã bong sơn, gãy tay cầm. Muốn phục chế, các cụ cũng không biết tìm đâu ra nghệ nhân. Còn làm mới thì theo như ông Sòng cho biết, giá một đầu rối vào khoảng 15 triệu đồng. Hiện nay, Sở VH-TT-DL tỉnh Nam Định đang có kế hoạch ghi hình toàn bộ diễn trình, làm hồ sơ để trình Cục Di sản văn hóa công nhận rối đầu gỗ hầu thánh là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Năm 2009, lần đầu tiên trò ổi lỗi ra mắt công chúng ngoài không gian chùa Bi. 6 nghệ nhân đã đến Hà Nội trình diễn tại tọa đàm “Để di sản sống trong đời sống đương đại” trước các nhà nghiên cứu văn hóa. Lần thứ hai, rối đầu gỗ chùa Bi “xuất ngoại” là ngày 4-3-2012. Các nghệ nhân đã lên chùa Thầy (thôn Đa Phúc, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội) để trình diễn trong một cuộc hội thảo về thánh Từ Đạo Hạnh và tín ngưỡng dân gian.

Theo Đỗ Quang Tuấn Hoàng (Sàigòn Giải Phóng)
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Tuyết rơi, đẹp nhưng xót!

Từ sáng ngày 19.2, rất nhiều du khách đã đổ xô về Sapa để chiêm ngưỡng vẻ đẹp lung linh trong tuyết trắng. Tuyết bắt đầu rơi lúc 2h, nhiệt độ xuống thấp ở mức -0,2 độ C và phủ trắng mọi vật từ khu vực điểm cao đèo Ô Quý Hồ (khoảng 2.000m) lan dần đến khu vực ngã ba Nhà máy nước (thị trấn Sa Pa, khoảng 1.600m).

Đây là lần đầu tiên tuyết rơi ở Sapa trong năm nay, tuyết khiến những cành đào Sapa đẹp lung linh trong tuyết trắng. Hiện tuyết rơi ngày càng mạnh và đã phủ một lớp 3-5 cm trên mặt đất hai bên mặt đường quốc lộ 4D Sa Pa - Lai Châu. Trong khi những du khách đổ xô lên Sapa để ngắm tuyết và hào hứng chụp ảnh... thì lại có một thục tế: Đằng sau vẻ đẹp của tuyết là sự đói khổ!

“Ở đâu cũng thế, những người nghèo là khổ nhất. Tuyết rơi lạnh thế này, đằng sau cái vẻ đẹp của nó thì nó cũng mang tới sự đói khổ. Hoa màu, gia súc thiệt hại. Cái lợi từ du lịch chỉ có tác dụng trên một số người, nhưng phần lớn những người nghèo thì thiệt hại nặng nhất”, một bạn trẻ chia sẻ.

Nhiệt độ giảm xuống âm 0,2 độ C vào sáng 19-2 khiến thị trấn Sapa có tuyết rơi với cường độ nhẹ, phủ lớp mỏng trên cây cối, nhà cửa. Một số vùng núi khác thuộc tỉnh Lào Cai như xã Y Tý (Bát Xát) - nơi nằm ở độ cao trên 2.000 m so với mặt nước biển cũng có mưa tuyết dày khoảng 5-10 cm. Hiện tuyết vẫn chưa tan hết.

Nghe tin Sa Pa có tuyết rơi, không còn sự hứng thú như những lần tuyết rơi trước, nhiều người trẻ bày tỏ sự xót xa, thương cảm với người dân Sa Pa khi hay tin có tuyết rơi.

Bạn Duy Khánh chia sẻ: “Đi leo Fansipan một lần đúng vào dịp tuyết rơi như thế này, tởn tới giờ. Ngày đầu tiên thì còn thích thú, đến tối thì lạnh không ngủ nổi, sáng hôm sau buốt cóng cả tay chân (mặc dù áo ấm khăn giày trang bị đầy đủ) đường trơn trượt leo rất nguy hiểm, cả đoàn đành bỏ cuộc khi đường lên đỉnh bị cây cối gãy đổ và tuyết chặn mất. Khi về xót nhất là thấy cảnh trâu bò chết dọc sườn núi, người dân đành đem xẻ thịt tại chỗ, như vậy là gần như mất trắng. Ảnh chụp đợt đó giờ nhìn lại vẫn phải chặc lưỡi "đẹp lạnh lùng". Không mong tuyết rơi trên Sapa, đồng bào trên ấy khổ lắm”.

Đã từng lên Sa Pa vào đúng mùa mưa rét, cảm nhận được sự khắc nghiệt của cái lạnh cắt da cắt thịt trên đó nên Hoài Anh (Ba Đình, HN) rất đồng cảm với đồng bào trên đó: “Cách đây vài năm mình cũng tới Sapa vào mùa đông, lúc đó không có tuyết rơi nhưng cũng lạnh lắm. Mình thì mặc áo trong , áo ngoài vẫn thấy rét ơi là rét. Vậy mà vào trong bản vẫn thấy có em nhỏ chỉ tầm 3 tuổi thôi nó vẫn cởi chuồng, mặc áo thì phong phanh. Nhìn thấy mà thương quá. Bà con vùng núi của mình vẫn còn nghèo và thiếu thốn quá. Vậy mà giờ lại có tuyết rơi thì lạnh lắm”.

Còn chị Lê Thúy, quê Lào Cai, đang làm việc ở Hà Nội, nghe tin quê nhà có tuyết mà quặn lòng. “Rét buốt thế này, thương mẹ, thương các em, các cháu ở nhà quá”.

Ngay cả những bạn trẻ mê “phượt”, ưa khám phá, khi nghe tin Sa Pa lại có tuyết rơi cũng không còn hứng thú: “Đẹp thật. Nhưng chúng ta chỉ đi ngắm 1, 2 ngày thì thấy nó đẹp nhưng nhìn những đứa trẻ dân tộc phong phanh co ro trong cái rét xót xa lắm bạn ơi. Hy vọng các bạn nào đi Sapa mùa này có thể đem cho mấy em vài tấm áo ấm”, một bạn trẻ chia sẻ.

“Không biết trên đó có bao nhiêu đồng bào mình đang chịu rét và đói! Tội nhất là người già và trẻ em. Cầu mong cho nhiệt độ tăng lên, mặt trời sưởi ấm, tuyết tan”, một bạn trẻ khác tiếp lời.

Hiện tượng tuyết rơi cũng xảy ra ở nhiều nơi vùng cao phía Bắc tại Lào Cai, gồm các xã Y Tý, huyện Bát Xát. Còn tại huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, hiện tượng tuyết rơi cũng tái diễn lần thứ 3, tính từ giữa tháng 12.2013 đến nay, tại các xã: Tả Lủng, Giàng Chu Phìn, Cán Chu Phìn, Thượng Phùng, Xín Cái, với lượng tuyết dày từ 5 - 7 cm. Nhiệt độ trong ngày thấp nhất ở các xã vùng cao này chỉ còn 1 - 2 độ C.

Du lịch, GO! tổng hợp

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Hội Cổ Nhơn - thú chơi tao nhã ngày xuân

(PNO) - Vùng đất võ Bình Định luôn rộn ràng mỗi dịp xuân về, bởi nơi đây còn lưu giữ rất nhiều lễ hội truyền thống mừng xuân, như hội chợ Gò (Tuy Phước), hội đua thuyền, bài chòi, hội Đống Đa (Tây Sơn)… Trong đó, trò chơi dân gian, độc đáo Cổ Nhơn là thú vui tao nhã của người dân Bình Định dịp đầu xuân năm mới.

Gốc tích thú chơi Cổ Nhơn

Chưa có tài liệu sử sách nào ghi lại nguồn gốc xuất xứ của trò chơi Cổ Nhơn, những người chơi hội Cổ Nhơn đều nói trò chơi này đã có từ lâu, truyền qua nhiều đời.

Theo nhà nghiên cứu Đặng Quý Dịch, trò chơi Cổ Nhơn xuất phát từ thời nhà Nguyễn, du nhập vào Bình Định. Qua thời gian, Cổ Nhơn ở Bình Định có nhiều thay đổi, phát triển và thành món ăn tinh thần của người dân nhiều vùng ở địa phương này. Trò chơi có một ban tổ chức, gọi là Hội xổ Cổ Nhơn. Hội này chịu trách nhiệm ra đề, thu tịch và sẽ chung tiền cho những người giải đáp chính xác. Tỷ lệ chiến thắng 1 đồng nhận 25 đồng.

Tịch của trò chơi này gồm 36 con vật, dùng để ghi số tiền mà người chơi mua. 36 con trong bảng Cổ Nhơn được chia thành 9 nhóm: Tứ trạng nguyên: cá trắng, ốc, ngỗng, công; Ngũ hổ tướng: trùn, cọp, heo, thỏ, trâu; Thất sinh lý: rồng bay, chó, ngựa, voi, mèo, chuột, ong; Nhị đạo sĩ: hạt, kỳ lân; Tứ mỹ nữ: bướm, hòn đá, én, cu; Tứ hảo mạng: khỉ, ếch, quạ, rồng nằm; Tứ Hòa Thượng: rùa, gà, lươn, cá đỏ; Ngũ khất thực: tôm, rắn, nhện, nai, dê; Nhất ni cô: con yêu.

Mỗi ngày 2 - 3 lần, BTC sẽ chọn một trong 36 con trong bộ tịch bỏ vào hộp gỗ niêm phong làm đề. Hộp gỗ chứa đề sẽ được trên lên cây nêu cao khoảng 5m ở các trụ sở thôn, xã… Dưới cây nêu có lực lượng canh gác, giữ đề không bị lộ.

Sau khi treo đề, để người chơi luận Cổ Nhơn, BTC sẽ đưa ra đề (câu thai) gồm 4 câu thơ lục bát ứng với đề. Phần luận câu thai để tìm ra đáp án chính là phần sôi nổi nhất của ngày hội Cổ Nhơn. Mỗi câu thai đều là danh lam thắng cảnh, nội dung văn học, sách sử, điển tích điển cố… người chơi dựa vào ý nghĩa của mỗi câu thai để đàm luận. Cổ Nhơn ý vị ở chỗ, người chơi phải thực giỏi, luận đề hay… tuy nhiên chưa hẳn người giỏi chữ nghĩa, luận đề hay là người thắng. Người đoán bừa chưa chắc đã thua. Bởi người ta thường nói, văn chương chữ nghĩa có nhiều lời giải, luận bàn khác nhau, và mỗi người đều tìm ra cái lý của mình.

Khi thắng được câu đề, không quan trọng ở khoản tiền ăn thua mà người chơi hãnh diện bởi khả năng, suy luận của bản thân.

Cổ Nhơn nơi đất Võ

Ở Bình Định, hội Cổ Nhơn nức tiếng nhất đất Hoài Nhơn. Mỗi dịp xuân, khắp thôn, xã ở huyện Hoài Nhơn rộn ràng, háo hức chờ hội Cổ Nhơn. 30 tết (tháng thiếu 29), Cổ Nhơn khai hội và có thể kéo dài đến mồng 5, mồng 6 tùy nơi. Thế nhưng từ độ 25 tháng Chạp, ở Hoài Nhơn đã sôi nổi, bàn luận, chờ đợi một mùa Cổ Nhơn đến. Trong gần 10 năm trở lại đây, Cổ Nhơn trên đất Hoài Nhơn lan tỏa sâu rộng, đến mọi ngóc ngách ở các vùng quê trong huyện. Cổ Nhơn là dịp để những người con xa quê hội ngộ, ngồi bên tách cà phê luận đàm câu thai, tìm lời giải đáp.

Hội Cổ Nhơn ở Hoài Nhơn chơi theo cách thức truyền thống, bộ tịch 36 con và câu thai là 4 câu thơ lục bát. Mỗi ngày hai lần vào lúc 6 giờ sáng và 14 giờ chiều, BTC sẽ chọn môt trong số 36 con trong bộ tịch treo lên cây nêu. Đến 12 giờ trưa và 18 giờ tối, Cổ Nhơn xổ đề trong niềm hân hoan, chờ đợi của hàng trăm người chơi.

Riêng ở TX An Nhơn (Bình Định), hội Cổ Nhơn biến thể hơn. Cách chơi không thay đổi, nhưng sẽ có sự thay đổi trong bộ tịch và câu thai. Bộ tịch ở đây không là 36 con mà 40 con, 4 con được thần. Câu thai không là 4 câu thơ lục bát mà được rút lại thành hai câu thơ lục bát.

Ông Nguyễn Đức Minh (64 tuổi), người 30 năm ghi Cổ Nhơn (P. Bình Định, TX An Nhơn), nói: “Cổ truyền bộ tịch Cổ Nhơn chỉ 36 con, về sau BTC thêm vào bộ thần thành 40 con. Một trò chơi dân gian có từ rất lâu, Cổ Nhơn thiên về chơi xuân, giải trí hơn thắng thua. Người thua cũng vui mà người thắng lại càng vui. Ghi Cổ Nhơn được sự cho phép của chính quyền, BTC Cổ Nhơn hàng năm tổ chức để mọi người vui xuân”.

Thực ra Cổ Nhơn khó cũng khó, mà dễ cũng thực dễ… Người chơi nhìn vào từng câu thơ để giải nghĩa. Ví dụ: “Nhớ ngày kỉ niệm Đống Đa/ Chiến công oanh liệt, vẻ vang nước nhà” là một câu thai được ra trong ngày kỉ niệm chiến thắng Đống Đa (4 -5/1 âm lịch). Câu thai này tương ứng với đáp án là “Thần Tài”. Bởi kỷ niệm Đống Đa là để tướng nhớ vua Quang Trung và các Văn thần Võ tướng tài giỏi của nhà Tây Sơn. Vua Quang Trung, vị vua tài giỏi, xuất chúng… người giỏi xuất chúng được mệnh danh là thần, và có tài nên đáp án ứng với “Thần Tài””.

Cổ Nhơn ở An Nhơn được tổ chức ở 3 địa điểm, P. Bình Định, xã Nhơn Phong và Nhơn Hạnh. Mỗi ngày, Cổ Nhơn xổ hội 3 lần tương ứng với 3 lần chơi. “Cổ Nhơn chỉ còn tổ chức ngày cuối cùng (6.1 AL), nhưng chúng tôi cứ thấy tiếc. Phải chờ một năm nữa mới lại được xem hội Cổ Nhơn quê mình. Đi xa, nhớ tết nhớ nhà và nhớ cả câu đề Cổ Nhơn…”, anh Phạm Mười, người chơi Cổ Nhơn chia sẻ.

Theo Dịu Dịu (báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Rượu men lá của người Nùng

Lục Ngạn, vùng đất mang nhiều dấu ấn văn hóa của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử. Nói tới Lục Ngạn, mọi người đều biết đến đặc sản vải thiều Lục đã nổi tiếng trong và ngoài nước và nhiều loại nông sản khác cũng nổi tiếng không kém như hồng không hạt, mật ong rừng và nhiều đặc sản khác nữa của huyện.

Nhưng, vùng đất Lục Ngạn còn một đặc sản vô cùng ý nghĩa mà bất cứ ai đã từng đến nơi đây cũng không thể quên mang về làm quà cho người thân, đó chính là đặc sản rượu Kiên Thành. Rượu Kiên Thành không được nhiều người biết tới như rượu Vân (Việt Yên), rượu Kim Sơn (Ninh Bình) và nhiều loại rượu khác nữa, nhưng ai đã một lần được uống rượu Kiên Thành chắc không bao giờ quên được thứ rượu mang hương vị của núi rừng Lục Ngạn.

Kiên Thành là một xã vùng cao của huyện Lục Ngạn. Từ thành phố Bắc Giang ngược theo quốc lộ 31 tới thị trấn Chũ (trung tâm - huyện lỵ của Lục Ngạn) chừng 40km. Từ thị trấn Chũ theo đường đi Kiên Lao 7km là đến trung tâm của xã nằm ở phía bắc của huyện lỵ Lục Ngạn. Phía bắc giáp xã Sơn Hải, nam giáp xã Trù Hựu, đông giáp xã Thanh Hải và phía tây giáp xã Kiên Lao. Trước cách mạng tháng Tám 1945 miền đất này thuộc tổng Kiên Lao, huyện Lục Ngạn. Sau cách mạng tháng Tám - 1945 thuộc xã Kiên Lao, cho tới tháng 7 – 1958 chia xã Kiên Lao thành hai xã Kiên Lao và Kiên Thành. Nghề nấu rượu ở đây không biết đã có từ bao giờ nhưng hương vị của nó từ lâu nay vẫn mang hương vị của núi rừng nơi đây.

Trải qua bao năm tháng người Nùng nơi đây vẫn giữ được bí quyết tạo nên hương vị của thứ rượu men lá đậm đà hương vị núi rừng. Men rượu Kiên Thành được làm từ nhiều thứ lá và rễ cây được lấy từ trên núi về  vò lấy nước ủ men. Theo những người nấu rượu lâu năm trong vùng nói về bí quyết của việc làm men thì để làm được loại men ngon thì phải lấy được cây trăm rễ một loại cây trên rừng về ngâm ủ rồi mới làm thành men. Khi đã làm được men thì mới tới công đoạn chọn gạo nấu cơm rượu và ủ men rượu.

Loại gạo được chọn nấu rượu  phải là loại gạo bao thai hồng không được xay trắng làm mất lớp gạo nức bên ngoài mà chỉ xay cho hết vỏ chấu được nấu thành cơm nấu cơm rượu cũng là một nghệ thuật. Cơm phải được nấu bằng củi chứ không nấu bằng than hay bếp gas và cơm nấu phải vừa chín tới không được cứng cũng không được quá nát. Cơm nấu xong để nguội  rồi mới trộn với men đã được xay nhỏ.

Sau đó hỗn hợp trên sẽ được đem vào các chum vại sành, sứ ủ khoảng ba, bốn ngày cho đến khi ngấu men thì mới đổ nước vào thời gian ngâm nước khoảng hai, ba  ngày rồi mới đem ra chưng cất thành rượu.

Nấu rượu cũng là một nghệ thuật không phải nấu sao cũng được. Người Nùng ở Kiên Thành vẫn duy trì kiểu nấu rượu truyền thống của mình đó là kiểu nấu “ba ba”. Vật dụng để nấu ruợu cũng đơn giản, đó là một nồi bằng đồng hoặc nhôm, một chõ nấu rượu một chiếc chảo bằng gang hoặc nhôm đều được, một mảnh gỗ đục hình con ba ba một ống nứa và một chiếc chum hoặc can để đựng lấy rượu chẩy ra.

Sau khi cái rượu ngâm nước đã ngấu kỹ người nấu rượu cho vào nồi rồi đặt chiếc chõ trong đó đã có sẵn mảnh gỗ đục hình con ba ba vào rồi đặt lên đó chiếc chảo sau đó dùng hỗn hợp cám hoặc do bếp đắp vào các khe hở sao cho hơi nước không thoát ra ngoài được, đổ nước lạnh vào chảo trên cùng rồi đun nhỏ lửa cho tới khi  nồi cái rượu sôi bốc hơi nên gặp chảo nước lạnh sẽ ngưng tụ thành giọt nuớc và rơi vào mảnh gỗ đục hình ba ba và chảy ra ngoài theo đường ống.

Mỗi khi thấy nước trên chảo nóng phải thay nước đó bằng nước khác. Cứ như vậy cho tới khi nào người nấu rượu lấy đủ số lượng rượu tương ứng với số gạo thì thôi. Thông thường thì một kg gạo tương ứng với 1 lít ruợu. Cứ mỗi khi đến mùa cưới tức là khoảng tháng 8 tới cuối năm âm lịch thì đó là mùa nấu rượu được nhiều nhất.

Ngày trước người Nùng nơi đây dùng nước suối để nấu rượu tuy nhiên do ảnh hưởng của khí hậu ô nhiễm nên hiện nay không dùng nước suối mà dùng nước giếng khoan để nấu rượu, nhưng kỹ thuật và cách ngâm ủ men của người Nùng nơi đây vẫn mang hương vị truyền thống.

Ai đã một lần đến với Lục Ngạn và được thưởng thức đặc sản rượu Kiên Thành chắc sẽ không bao giờ quên được hương vị của rượu nơi đây chính vì hương vị đặc trưng của núi rừng Lục Ngạn  mà mỗi người tới đây đều mang về một vài lít rượu về làm quà cho người thân cũng là một cách quảng bá cho một đặc sản của núi rừng nơi đây.

Theo Vanhoabacgiang
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Lao xao mùa ngâu chín

Trong mâm ngũ quả chưng trên bàn thờ gia tiên ngày tết của nhiều người dân cố cựu ở Biên Hòa, Vĩnh Cửu (tỉnh Đồng Nai), Tân Uyên, Dĩ An (tỉnh Bình Dương) ngoài thứ không thể thiếu là bưởi Tân Triều, còn có một loại trái cây rất được ưa chuộng là ngâu. Cho đến giờ, trong cả nước không ghi nhận được nơi đâu có loại trái này.

Ngâu gần như là đặc sản chỉ có ở vùng Đại An (nay là xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu). Trái ngâu chín tỏa một mùi thơm đặc trưng và để được lâu ngày không thua kém gì bưởi. Mùi thơm của ngâu trong mâm ngũ quả kết hợp với mùi bông vạn thọ tạo thành hương sắc độc đáo cho cái Tết Nguyên đán của một thời chưa xa lắm trên vùng đất Biên Hòa.

Trái gì lạ quá!

Bà Nguyễn Thị Trung Hiếu, 43 tuổi, nhà ở phường Quang Vinh (TP. Biên Hòa) chuyên nghề bỏ mối bánh kẹo, có chồng người xã Tân An (huyện Vĩnh Cửu) 4 năm nay cũng tham gia vào việc bán trái ngâu tết. Bà mua ngâu tại nhà vườn ở Tân An, dú khí đá rồi chở lên Biên Hòa bán ngay bên lề đường trước nhà mẹ ruột. Bà Trung Hiếu cho biết, ngâu năm nay chín sớm và bán rất được giá (40-45 ngàn đồng/kg, năm rồi chỉ 30-35 ngàn đồng/kg).

Là người bán ngâu kém thâm niên nhất, không ít lần phải nghe những nam nữ thanh niên đi chơi ngang qua nhìn đống ngâu chất bên đường, ngừng xe lại hỏi: “Trái gì lạ quá vậy? Và ăn làm sao?”… Ấy vậy, bà Trung Hiếu cũng có khá đông khách hàng là mối quen đặt mua mỗi người 10kg để ngâm rượu, còn lại là khách đến mua ngâu chín đập vỏ ăn tại chỗ. Với số vỏ bỏ lại, bà cân bán cho người sành rượu ngâu với giá trên 200 ngàn đồng/kg, tùy theo việc thu được nhiều ít.

Mấy năm bán ngâu mùa tết, bà Trung Hiếu có được một vị khách hàng rất đặc biệt với tuổi đời khoảng 70, mái tóc bạc phơ, mỗi ngày ông mua và ăn sống hết 3kg trái ngâu. Hôm nào không đi được, ông cho vợ đến mua và cho biết là ăn ngâu trị đau lưng, nhức mỏi tay chân rất công hiệu.Tôi cũng từng gặp ông Phước ”ruồi”, một thương lái lúa gạo ở Tân An, cho rằng ông khỏe mạnh là nhờ ăn trái ngâu và đã dứt được chứng đau bao tử đã giày vò ông nhiều năm.

Tôi đã quá tuổi lục tuần và cũng may là không dính mấy loại bệnh vừa nêu, mà lại rất thích ăn trái ngâu, kể cả ngâu còn sống nhớt nhớt có vị nhẫn nhẫn, hoặc trái ngâu nướng thơm phức mùi khoai lang lùi, nhưng mê nhất là uống rượu ngâu.
Cách chỗ bà Trung Hiếu bán ngâu chừng 100m, phía đầu phố đi bộ chợ đêm Biên Hùng có quán ngâu đã nổi tiếng đến vài mươi năm ỏ Biên Hòa với rượu ngâu pha sôđa đá, nặn tắc cùng chút xíu muối. Thứ cốc-tai ngâu này mà nhắm với món bò tả tơi, bù tọt chiên giòn... có thể nói là ngon thấu trời. Tôi đã từng đưa rất nhiều đồng nghiệp trong Nam ngoài Bắc đến quán này để thưởng thức những món ”lần đầu mới biết”, ai cũng khen và lần nào gặp lại nhau cũng còn nhắc.

Người có bí quyết ngâm rượu ngâu ngon không thua kém gì với các loại rượu ngoại danh tiếng, đến nỗi đem ra đãi nhiều dân nhậu khen nức nở là ông Phan Hùng, Bí thư Chi bộ ấp Bình Ý (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu), nguyên Trưởng đài Truyền thanh huyện. Suốt gần 30 năm công tác, gần như mỗi ngày ông đều đi ngang qua xã Tân An nên chỉ cần nhìn mấy hàng ngâu bên đường hoặc trong vườn nhà người quen là xác định trúng phóc ”bây giờ tháng mấy”.

Trái ngâu chín đập vỡ đôi.

Không những có kinh nghiệm ”xem ngâu thay lịch”, ông Phan Hùng còn biết cả vườn nhà ai có loại ngâu ngon nhất để chọn mua ngâm rượu. Theo ông, ngâu có đến mấy loại: ngâu sẻ: trái bằng nắm tay, vỏ mỏng, dẻo, ngon; ngâu trâu: trái bự hơn, vỏ dày và cứng. Ngon nhất và cũng hiếm nhất là ngâu giấy: vỏ mỏng, mềm, trái nhỏ và rất thơm.

Vỏ ngâu giấy chín vàng còn tươi đem ngâm cho ra loại rượu ngâu thượng hạng. Ông Phan Hùng còn cho biết, cách đây hơn 20 năm, thời ngành mía đường Vĩnh Cửu còn đang thịnh, đến mùa ngâu nhiều ông chủ lò đường mua ngâu giấy đem về bỏ vô chảo mật đường tạo ra một món ăn ”cực ngon” chỉ dùng đãi thượng khách.

Biết đâu nguồn cội

Về xuất xứ của cây ngâu cũng có nhiều luồng thông tin khác nhau. Tìm đến Đại An (nay là xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu), nơi duy nhất hiện nay có trồng loại cây này, qua sự giới thiệu của ông Tư Cò (Hồ Minh Quang, Chủ tịch Hội Nông dân xã), tôi gặp ông Lương Văn Năm có vợ là bà Lâm Thị Nữ  (Hai Nữ) ở nhà số 463, ấp Bình Chánh là người trồng ngâu nhiều nhất và lâu đời nhất ở đây.

Bà Hai Nữ cho biết, bà ngoại của bà là cụ Năm Tú (Nguyễn Thị Bảy, sinh năm 1894, mất năm 1987) là người đầu tiên trồng ngâu ở Đại An. Bà Hai Nữ năm nay 77 tuổi còn quả quyết là ”hồi nhỏ xíu tôi đã biết cây ngâu do ngoại tôi trồng rồi, nhưng hổng biết là trồng lúc nào và kiếm giống ở đâu. Cây ngâu đầu tiên có cả trăm năm tuổi đó cao hơn 30m đã bị đổ ngã năm 2004”.

Rượu ngâu.
Có một chuyện cũng rất lạ là những cây ngâu con phát sinh từ rễ cây ngâu cổ thụ này cho trái mỏng vỏ, thơm nồng nàn; còn cũng chính trái ngâu của cây này lấy hạt đem gieo ươm lại cho trái ngâu vỏ dày, cứng ngắc, ruột nhiều xơ và có vị hơi đăng đắng. Do đó dân buôn bán trái cây chuyên nghiệp thường ”bắt mối” trước những nhà vườn có ngâu ngon; trong số đó có tiếng nhất là vườn bà Hai Nữ, ông Tám Tiên, bà Hai Báu, bé Bảnh, Tư Thẳng...

Trước đây, tôi có biết đến bà Chín Thọ (tên đầy đủ là Lê Thị Thọ, nhà ở Đại An, đã mất cách đây vài năm) với nửa thế kỷ chuyên nghề mua bán trái cây theo thời vụ, biết một cách rành rẻ ngâu nhà nào ngon, dở, trúng thất ra sao. Vào mỗi mùa tết, bà thu gom đến vài thiên (mỗi thiên: 1.200 trái) ngâu loại ngon đem lên Biên Hòa bỏ mối cho các tiệm thuốc Bắc và bán cho khách hàng quen. Ngoài thương lái mua mão, đến mùa ngâu chín, các nhà xứ ở vùng Hố Nai, mấy quán nhậu đặc sản còn đưa xe về tận vườn chọn mua ngâu ngon đem về ngâm rượu.

“Am hiểu về ngâu đến như vậy, thế nhưng khi hỏi về nguồn gốc cây ngâu ở Đại An, ông Phan Hùng cũng như nhiều lão nông tri điền khác ở huyện Vĩnh Cửu đều nói một cách khá mơ hồ: Nghe đâu mấy ông cha ở nhà thờ đem giống ở đâu đó về trồng!”.
Gặp chủ vườn Trần Văn Thạch, một ”thổ địa” đất Đại An, có vợ chuyên mua bán trái cây nên ông chẳng những thông thạo mọi ngóc ngách địa bàn, mà còn được cập nhật thường xuyên về giá cả nông sản. Ông Thạch cho biết: ”Ngâu năm nay chín sớm, do thời tiết có một số trái ngâu bị bệnh thúi đầu, nhưng không nhiều lắm. Ngâu năm nay trúng, phần lớn ngâu thu hoạch được đều ngon và bán được giá.

Lần đầu ăn thử ngâu trong ngày tết.
”Nghề” ngâu này cực nhất là khâu thu hoạch, do hầu hết cây ngâu ở Đại An đã già cỗi và cao, trái ngâu lại mọc ở đầu cành nhánh có gai nhọn và dài nên rất khó bẻ. Trước đây, dân bẻ ngâu thiện chiến lắm một ngày leo bẻ cũng không tới một thiên trái. Nay số người bẻ ngâu giỏi này không còn nữa. Khỏang 3 năm trước, đến mùa kiếm không ra người bẻ ngâu, chủ vườn mướn được người bẻ thì bán ngâu trả tiền công bẻ tính ra không đủ sở hụi.
Hai mùa ngâu gần đây nhờ ngâu có giá, thương lái đến vườn mua mão thường đưa theo người bẻ. Dân bẻ ngâu trẻ dùng lồng bẻ từng trái, chứ không dùng sào tre đập, giật như lớp đàn anh trước đây, tuy thu hoạch có chậm hơn, nhưng bảo đảm cho trái ngâu không bị bể, dập”.

Chiều 29 tết rảo một vòng từ Thiện Tân (huyện Vĩnh Cửu) về Biên Hòa, tôi thấy bưởi, ngâu bày bán hai bên đường 768 khá nhiều. Hỏi giá, các điểm bán ngâu ở Bình Hòa, Bửu Long đều đòi 50 ngàn đồng/kg. Nghe tôi chê mắc, mấy bà bán ngâu liền nói: ”Về chợ Biên Hòa mua thử đi. Bữa nay họ bán một ký phải từ 62-65 ngàn đồng!”.
Mùng 6 tết vừa rồi, đến ấp Bình Ý tôi lại bất chợt nghe thoang thoảng mùi thơm của ngâu, khó lầm lẫn với bất cứ loại trái cây nào khác. Hỏi ra mới biết, ngoài Tân An, chỉ ở Bình Ý là có ngâu, nhưng chỉ còn một cây duy nhất trồng khoảng 20 năm ở vườn nhà ông Phó trưởng ban ấp Ngô Văn Dũng.

Theo Bùi Thuận (báo Đồng Nai)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Bảo tàng Đông Nam Á - Hà Nội

(BAVN) - Bảo tàng Đông Nam Á là bảo tàng đầu tiên về văn hóa các nước Đông Nam Á, một trong những điểm kết nối giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa các nước trong khu vực.

< Bảo tàng Đông Nam Á mang kiến trúc đặc trưng, nằm trong khuôn viên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

Bảo tàng Đông Nam Á trực thuộc và nằm trong khuôn viên Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, là công trình chào mừng kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.


< Bộ Dao cau của Malaysia.

Tòa nhà bảo tàng có diện tích gần 500m2, được thiết kế theo hình cánh diều thể hiện văn hóa Đông Nam Á. Đây là thành quả của sự đầu tư từ Chính phủ Việt Nam và sự hợp tác của một số chuyên gia Pháp trong khuôn khổ dự án "Phát huy di sản bảo tàng Việt Nam" do Chính phủ Pháp tài trợ.

< Dao hộ thân của người dân Indonesia.

Để có một cái nhìn khái quát về văn hóa Đông Nam Á, trong 5 năm qua, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã thực hiện nhiều chuyến đi nghiên cứu, sưu tầm hiện vật và tư liệu ở các nước trong khu vực. Với hơn 2.000 hiện vật và gần 100 băng ghi âm, ghi hình, tư liệu quan trọng tạo dựng trưng bày để khách tham quan có một cái nhìn đầy đủ về văn hóa các nước Đông Nam Á.

< Bộ giá đựng trầu của người Malaysia.

Ngoài ra, Bảo tàng được thừa hưởng nhiều bộ sưu tập quí của các nhà khoa học ở các nước hiến tặng với gần 400 hiện vật và 130 ảnh, kèm theo là hệ thống thông tin bao gồm bản đồ, các chú thích, bài viết và phim video, được bố trí trong không gian rộng gần 500m2, ở tầng 1 của tòa nhà 4 tầng.

< Âu của người Campuchia.

< Sách lá cọ của người Lào.

< Rối bóng của Indonesia.

Việc trưng bày được tổ chức theo phong cách cách hiện đại, mang tính khoa học và mỹ thuật cao thông qua 5 chủ đề chính: đồ vải, đời sống hàng ngày, đời sống xã hội, nghệ thuật biểu diễn và tôn giáo. Nhiều yếu tố văn hóa của các cư dân Đông Nam Á được thể hiện, gợi mở về một Đông Nam Á đa dạng, thống nhất trong văn hóa và lối sống.

< Bộ đồ của các thầy cúng Malaysia.

< Đầu tượng phật được làm bằng gỗ, sơn mài mạ vàng ở Myanmar.

Khách tham quan bảo tàng có thể tìm hiểu sự đa dạng của văn hóa các nước Đông Nam Á. Chẳng hạn như bộ sưu tập trưng bày rối của các nước Indonesia và Myanmar có nhiều đặc điểm tương đồng với rối nước Việt Nam. Hay như các hiện vật trưng bày về đạo Phật các nước Thái Lan, Lào, Camphuchia và Việt Nam thể hiện con đường truyền giáo và ảnh hưởng của Phật giáo đến sự hình thành văn hóa các nước.

< Cuốn kinh Coran của Singapore.

< Du khách thích thú với tủ trưng bày những chiếc mũ truyền thống của các dân tộc Trung Quốc.

Bà Lê Thị Thanh (Đống Đa, Hà Nội) chia sẻ cảm xúc của mình khi đi thăm bảo tàng: “Thông qua việc tham quan, tìm hiểu các hiện vật trưng bày, tôi như được đi du lịch đến các nước Đông Nam Á. Tôi đặc biệt thích thú với bộ trang phục cô dâu của nước bạn Lào vì tính độc đáo của nó”.

< Bảo tàng Đông Nam Á hiện là nơi mỗi ngày thu hút rất đông các lượt khách tới tham quan.

Bảo tàng Đông Nam Á là một minh chứng sống động cho quan điểm, tầm nhìn cũng như quyết tâm của Việt Nam trong việc tăng cường giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, hướng tới xây dựng cộng đồng ASEAN - ngôi nhà chung của các quốc gia Đông Nam Á.

Theo Thông Thiện - Tất Sơn (Báo Ảnh VN)
Du lịch, GO!
 

Sample text

Sample Text

Sample Text

 
Blogger Templates