Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Đặc sản vùng biển Thái Thụy

(BGO) - Nếu ai đó có về thăm Thái Thụy, hãy thưởng thức gỏi nhệch một lần, bảo đảm món ăn này sẽ chiều lòng được cả những thực khách khó tính nhất.

< Nộm sứa ở Thái Thụy.

Là huyện ven biển, Thái Thụy không chỉ nổi tiếng là địa phương có truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời, nhiều điểm du lịch sinh thái, văn hoá tâm linh hấp dẫn như: cồn Ðen, Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn ven biển với nhiều loài chim, hải sản quý hiếm, Khu lưu niệm đồng chí Nguyễn Ðức Cảnh... mà còn được nhiều du khách biết đến với 2 món hải sản biển đặc trưng là nộm sứa và gỏi nhệch.

Khắp dọc bờ biển Việt Nam, nộm sứa-gỏi nhệch là 2 món ăn có ở nhiều nơi, tuy nhiên ở mỗi nơi có hương vị, đặc trưng riêng. Còn với người dân Thái Thụy, họ vẫn truyền tai nhau câu nói: "Nếu về Thái Thụy mà chưa thưởng thức nộm sứa, gỏi nhệch thì coi như chưa từng về” và nó như một lời mời chào hấp dẫn, khó du khách nào nỡ lòng từ chối. Nộm sứa hay còn gọi là gỏi sứa là món nộm sử dụng nguyên liệu chính là sứa bắt từ biển về đã được sơ chế. Sứa có rất nhiều ở vùng biển Thái Thụy, trông nó giống như thực vật nhưng lại là động vật thuộc loại xoang trường cùng họ với san hô.

Những ngư dân nơi đây cho biết: thân sứa trong suốt như thủy tinh, mềm mại như chiếc lá, mang đủ màu sắc từ xanh dương, hồng cho đến tím nhạt. Sứa chứa tới 95% là nước, nếu đem phơi nắng suốt 12 giờ liền thì toàn thân sứa sẽ mỏng như tờ giấy. Mùa hè là mùa sứa nổi, nhiều nhất là vào tháng 4, tháng 5, từng thảm sứa di động trên mặt biển trông như vườn hoa sặc sỡ. Sứa không có mắt, vây, tai, đuôi và cũng không có xương. Xưa kia, người dân đi biển gặp sứa thì bắt về làm sạch ngâm với sú vẹt để vài tháng không hỏng, ăn dần hoặc đem bán lẻ ở các chợ. Nhưng khoảng 10 năm trở lại đây, nộm sứa trở thành món ăn đặc sản xuất khẩu ra nước ngoài, ở Thái Thụy có cả đội tàu đi thu gom sứa, hàng chục cơ sở chế biến sứa hình thành ở 6 xã, thị trấn ven biển.

Ðể có được món nộm sứa ngon, quy trình chế biến rất cầu kỳ. Sứa bắt về sơ chế sạch, ướp với muối phèn. Sau một thời gian, những miếng sứa ngậm muối bỏ ra ép thành tấm như chiếc bánh đa. Sứa đã ngâm muối phèn thường dai và dòn không nhũn như sứa ngâm sú vẹt theo phương pháp dân gian truyền thống. Người ta kỳ công cắt cẩn thận sứa ra thành từng miếng mỏng, chần qua nước sôi rồi đem xếp ra đĩa. Hành tây thái nhỏ cũng chần qua nước sôi, sau đó vắt khô cùng với sứa đem trộn đều với thịt gà xé nhỏ, mực hoặc thị bò khô, lạc, dừa nạo, lá chanh, một chút rau húng. Nộm sứa ngon là sau khi chế biến phải dòn, thơm và khô, khi thưởng thức thực khách cảm nhận được vị giòn tan của sứa, quyện với vị đậm đà nước mắm cốt, ngầy ngậy của lạc, thơm dịu ngọt của dừa và một chút vị biển của mực khô. Nộm sứa là món ăn mát, giải nhiệt nếu ai đã từng một lần ăn nộm sứa Thái Thụy vào mùa hè chắc chắn sẽ lưu giữ mãi hương vị thanh mát của món hải sản đặc trưng vùng quê này.

Cùng với nộm sứa, gỏi nhệch ở Thái Thụy cũng là món ăn đặc sản, hương vị đặc trưng khó quên. Nhệch không phải cá, không phải lươn, cũng không phải rắn và sống được cả ở nước ngọt và nước mặn. Người đời thường bảo: "lươn bung, nhệch rán” thì đắc sách nhưng với người dân Thái Thụy nhệch rán vẫn chưa là gì. Muốn biết thế nào là nhệch thì phải đến tận đất này, ra đón dân chài tận bến tranh mua được chú nhệch cơm tươi ngon, đem về rửa bằng nước vôi trong lọc kỹ cho sạch nhớt và săn thịt, lau khô, mổ bụng bỏ ruột rồi rửa lại nhệch với nước. Dùng khăn bông lau vuốt cho thật sạch rồi bỏ đầu đuôi, lóc xương, thái thịt nhệc thành miếng nhỏ có khía lát mỏng. Thợ làm nhệch giỏi phải là những người có bàn tay điệu nghệ lát nhệch thành miếng nhỏ mỏng như tờ giấy.

Tiếp đó, đến công đoạn ướp gia vị. Muốn có gỏi nhệch ngon phải có bí quyết cân đối tỷ lệ trộn các loại gia vị với thịt tạo thành một hương vị gỏi nhệch đặc trưng. Trước tiên, đem riềng giã nhỏ, bỏ hết xơ, thính gạo, chanh, hạt tiêu xay trộn với thịt nhệch thái mỏng cho vào vải xô sạch gói lại, ép cho thật kiệt nước đến khi miếng thịt ngấm gia vị cả trong lẫn ngoài, thật săn và dẻo. Ép xong, lấy ra cho các gia vị vào trộn đều một lần nữa để lên đĩa. Gỏi nhệch bắt buộc phải ăn kèm với các loại lá: cúc tần, vọng cách, đinh lăng, mùi tàu, húng quế, lá sắn, lá sung, si, hoa chuối, quả chuối xanh, khế, ớt... với đủ các vị: chua, cay, đắng, chát, thơm bùi...

Khi ăn, thực khách tỷ mẩn gói từng miếng gỏi với lá rồi chấm với dấm mắm tôm đặc trưng, nhai thật kỹ sẽ cảm nhận được vị vừa ngọt, vừa dòn, vừa dai, vừa thơm, vừa mát của gỏi nhệch. Ở vùng biển Thái Thụy hiện nay, nhệch ngày càng trở nên quý hiếm và đắt khách.

Thị trấn Diêm Ðiền và Thụy Xuân là 2 nơi làm gỏi nhệch nổi tiếng với hàng chục cửa hàng nhưng vẫn không đủ phục vụ nhu cầu, muốn có gỏi nhệch ngon có người phải đặt trước cả tuần. Nếu ai đó có về thăm Thái Thụy, hãy thưởng thức gỏi nhệch một lần, bảo đảm món ăn này sẽ chiều lòng được cả những thực khách khó tính nhất.​

Theo báo Bắc Giang
Du lịch, GO!

Về Cà Mau ăn mắm ong rừng

(TTO) - Biết tôi thích khám phá ẩm thực, nhân chuyến về Cà Mau thăm quê, bạn tặng cho một hũ mắm ong rừng. Cầm món quà, tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú vì từ trước tới nay chỉ biết mật ong rừng nổi tiếng ở địa phương này còn mắm ong rừng thì đúng là quá xa lạ.

Tò mò, không “giấu dốt”, tôi liền hỏi bạn cách chế biến cũng như việc thưởng thức món ăn quá đỗi lạ lùng này. Thấy tôi “hai lúa” thứ thiệt, bạn hào hứng kể ngay.

Ở Cà Mau, cứ đến mùa ong mật, người dân gác kèo ong dùng dao bén cắt phần tổ vắt lấy mật. Trong tổ có những con ong còn non bé xíu mũm mĩm, mềm béo thơm ngon.

Quanh đi quẩn lại xưa nay chỉ biết nấu cháo, xào mỡ hay kho khô... Ăn hoài cũng ngán nên nhiều người nghĩ ra cách chế biến món ăn mới cho lạ miệng, “lai rai” cho đỡ buồn, chưa kể dự trữ được lâu hơn. Thế là món mắm ong ra đời.

Làm mắm ong rừng không khó, chỉ cần lựa những con ong còn non, không giập chảy sữa rửa sạch, để ráo. Cho ong vào hũ cùng một ít muối, canh đừng để quá mặn, và đậy nắp lại đem ra phơi nắng vài hôm.

Khi thấy ong và muối ngấm đều, đổ ong ra trộn đều cùng thính cho có mùi thơm và cho vào hũ lại. Gài chặt phía trên bằng những cọng dừa tươi chuốt mỏng, đậy nắp kín và đem ra nắng phơi khoảng một tuần. Khi thấy thịt ong ngả màu vàng nhạt là đã ăn được.

Là món ăn "chạy" bữa, chỉ cần nồi cơm thì bất kỳ lúc nào cũng có ngay bữa ăn ngon lành. Nhưng muốn thưởng thức mắm ong rừng “đúng điệu miệt vườn” thì phải chuẩn bị những nguyên liệu chính như thịt ba rọi, nước dừa tươi, chuối chát, dưa leo, lá cóc, gừng, ớt, ngò rí…

Đầu tiên, cho nước dừa vào nồi luộc thịt ba chỉ cho chín, xắt miếng nhỏ. Chuối chát, dưa leo xắt miếng, gừng xắt sợi. Tiếp đến, cho mắm ong cùng thịt ba rọi, gừng vào trộn đều để ra dĩa, xung quanh dĩa là chuối chát, dưa leo, lá cóc non, điểm xuyết vào đó là một vài lát ớt sừng chín cùng ngò rí cho có màu sắc bắt mắt, dọn ra bàn là xong…

Dùng đũa gắp miếng mắm ong rừng kẹp thêm miếng dưa leo, chuối chát, lá cóc cho vào miệng nhai chậm rãi sẽ cảm nhận vị mềm béo, thơm của ong, chua nhẹ của mắm và lá cóc, chát chát của chuối, giòn giòn của dưa leo… cùng mùi thơm đặc trưng của thính lan tỏa.

Không chỉ ngon cơm, mắm ong rừng để nhắm với rượu đế càng "bắt". Dân xứ này chỉ cần vậy là đã có một món để lai rai bạn bè.

Nếu có dịp đến Cà Mau, mời bạn hãy khám phá món ăn đặc trưng và không kém phần “độc đáo” nơi vùng đất tận cùng Tổ quốc thân yêu này.

Theo Thanh Tâm (Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Thưởng thức tôm tít Cà Mau

Về Đất Mũi, U Minh, Ngọc Hiển, Năm Căn... (Cà Mau) du khách sẽ có dịp thưởng thức nhiều đặc sản hiếm: cá thòi lòi kho tiêu, đọt choại xào tép, rắn bông súng nướng mọi, cá kèo chiên muối ớt... Riêng dân sành điệu về tới vùng này thì phải có món "tôm tít".

< Nướng tôm tít, món đặc sản ở Cà Mau.

Tôm tít là quà đặc biệt của biển dành riêng cho bạn bè từ đất liền ra thăm đảo. Thịt tôm tít vừa ngon, ngọt, hiền lành vừa đậm đà hương biển, khác xa với mùi vị của tôm sú và tôm hùm...

Để có một bữa tiệc tôm tích thật hấp dẫn, trước hết phải có rượu ngon và chọn cho được những con tôm còn nhảy xoi xói. Con càng lớn càng có giá trị. Loại 4-6 con/kg mới thật sự là "đẳng cấp". Cách chế biến tôm tít không cầu kỳ lắm, chỉ cần hấp, luộc hoặc nướng, chấm muối tiêu chanh hoặc nước mắm me cũng đủ níu chân khách mọi miền. Những người khéo tay và có "tâm hồn" ăn uống còn bày cách ép mỏng những con tôm tít đem phơi khô, coi đó là món ngon hảo hạng dùng đãi khách hoặc biếu bạn bè.

Tôm luộc xong, nếu là tôm lớn người ta đặt nguyên con lên dĩa và dùng dao cắt ra từng khoanh cho dễ bóc vỏ. Nếu đem nướng, phải quạt cho than hồng, luôn trở đều, vỏ tôm vừa chín vàng, bốc lên mùi thơm phức là được. Nhưng đã nhất là... cứ dùng tay bóc vỏ, cặp thêm miếng rau thơm, nhai lên cảm thấy dai dai, ngọt lịm.

Nếu là tôm nhỏ để nguyên con cắn nghe giòn giòn. Thịt tôm tít màu đỏ hồng, mùi phưng phức, mềm mại nhưng không bở. Dân sành điệu dùng món này thường kèm thêm rau sống, cà chua, chuối chát, dưa leo và nếu như có thêm chút mù tạt càng ngon nhất xứ. Thịt tôm tít nếu đem cuốn với bánh tráng rau sống chấm nước mắm chua cay, chưa chắc có món cuốn nào bì kịp. Nếu như có thêm chai rượu đế hoặc vài lon bia thì bữa tiệc càng thêm hứng thú.

Tại Rạch Gốc và Tam Giang (Cà Mau) người ta khai thác tôm tít bằng lưới cào hoặc đóng đáy. Sau khi lưới được tôm, bà con ngư dân thường bảo quản trong thùng ướp lạnh trước khi đưa đến nhà hàng. Nếu không, thịt tôm sẽ bủn mất ngon. Tại một vài bãi biển du lịch, nhiều người còn tổ chức những chuyến săn bắt tôm tít bằng cách móc mồi vào lưỡi câu để nhử bắt thật hấp dẫn.

Theo Trieuthanh Weeklymagazine
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Dân dã ẩm thực Khánh Thiện

(NBO) - Nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ, Ninh Bình không chỉ nổi tiếng bởi có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, nơi đây còn được biết đến với văn hóa ẩm thực độc đáo và đa dạng.
Dường như mỗi địa phương trên mảnh đất này lại có những món ngon làm say lòng biết bao du khách trong nước và quốc tế.

Nhiều đặc sản của Ninh Bình như: Dê núi Trường Yên, rượu Kim Sơn, nem Yên Mạc… đã được công nhận là đặc sản nổi tiếng của Việt Nam. Đặc biệt Cơm cháy Ninh Bình còn được công nhận là món ngon mang giá trị ẩm thực châu Á.

Bánh đa vừng, chạo chân giò và chả đa vuông của xã Khánh Thiện là những món ăn truyền thống có từ lâu đời, được người dân nơi đây lưu giữ và truyền đến ngày nay.

Bánh đa vừng là sản phẩm của làng Phong An. Làng Phong An được lập nên từ thế kỷ thứ XV, dân làng sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp. Trong thời kỳ phong kiến dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, nhưng một số gia đình trong làng đã mở nghề bánh đa quạt để bán ở các chợ quê trong huyện. Vì không ghi chép lại nên không ai biết người đầu tiên đưa nghề bánh đa vừng về làng là ai.

Theo cụ Nguyễn Văn Đông, năm nay đã 96 tuổi, thì nghề làm bánh đa ở làng Phong An có từ trên một trăm năm nay và lúc thịnh hành có khoảng 30 gia đình làm nghề. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, để giành sức người, sức của phục vụ cho chiến trường miền Nam, thực hiện chính sách tiết kiệm của Nhà nước, nghề làm bánh đa bị gián đoạn. Từ sau giải phóng miền Nam, một số hộ dân trong làng đã khôi phục lại nghề nhưng không còn đông như trước. Hiện nay ở làng có 7 gia đình thường xuyên làm nghề bánh đa vừng, giải quyết việc làm cho khoảng 35 lao động với thu nhập bình quân trên 4 triệu đồng/người/tháng.

Nghề làm bánh đa vừng tuy không nặng nhọc nhưng rất vất vả, cần nhiều thời gian và phụ thuộc vào thời tiết. Nguyên liệu làm bánh đa gồm gạo, vừng và muối. Bánh đa được làm thành 2 loại, bánh đa thường và bánh đa gấc. Nếu làm bánh đa gấc, khi không phải mùa, gấc chín thu hoạch về người ta lấy ruột gấc trộn với muối đem ủ để làm nguyên liệu cho cả năm. Gạo làm bánh phải chọn gạo ngon, không dẻo, được sát trắng; vừng dùng loại mẩy, sát thật sạch và muối là loại muối hạt. Gạo được ngâm khoảng 2h, ngâm xong vo thật sạch, rồi đưa vào xay bột, nếu là làm bánh đa gấc thì trộn gấc vào gạo trước khi xay thành bột, xay xong phải tráng luôn nếu để lâu bột sẽ chua, chất lượng bánh sẽ không ngon.

Khi tráng bánh, các nguyên liệu vừng, muối phải được trộn theo tỷ lệ vừa phải. Bánh đa vừng phải tráng 2 lượt, khi tráng bánh xong đến đâu phải được phơi khô ngay đến đấy. Khi phơi bánh đến độ khô vừa phải thì thu và đóng gói bảo quản, không phơi quá khô vì bánh sẽ giảm chất lượng và dễ bị vỡ, nếu phơi còn ẩm thì khi quạt bánh sẽ bị quánh và dai. Nướng bánh phải nướng bằng than củi, trong quá trình nướng phải thường xuyên lật bánh đều tay để bánh chín đều. Bánh đa vừng khi nướng chín nên ăn ngay sẽ thơm ngon, giòn và xốp, ăn kèm với lạc luộc, lạc rang, dừa… rất ngon, ngậy, là món quà quê dễ ăn, rẻ tiền.

Món chạo chân giò Bồng Hải là một trong những món ăn khoái khẩu trong các gia đình khi làm các mâm cỗ ngày giỗ, ngày Tết. Món chạo chân giò rất dễ chế biến và dễ ăn. Nguyên liệu gồm có chân giò lợn, riềng nếp, tỏi, khế chua hoặc xoài xanh, bột ngọt, muối, nước mắm ngon, lá bưởi, củ xả, lá chanh, lá ổi, lá mắc mật. Cách chế biến, chọn chân giò lợn được nuôi theo kiểu truyền thống, không nuôi bằng chất tăng trọng hoặc chất kích thích. Chân giò được đem đốt bằng rơm lúa nếp hoặc ủ trên than hoa cho đến khi vàng rộm. Sau khi đốt xong lọc lấy thịt rồi rửa sạch, cho ướp với các loại gia vị như nước mắm, bột ngọt...

Khi thịt đã ngấm thì cho vào hấp. Cho các loại lá xuống dưới để thịt lên trên, riêng củ sả được để lên trên thịt. Hấp khoảng 15 phút là thịt chín, sau đó đem thái mỏng rồi trộn đều với các gia vị như mắm, riềng, bột ngọt, vừng… Khi ăn lấy bánh đa nem hoặc lá sung gói nem chạo chân giò, ăn kèm cùng các loại rau thơm chấm với nước chấm được pha mặn, chua, ngọt vừa phải hoặc tương bần của Hải Dương. Thưởng thức món chạo chân giò có vị cay của riềng, vị chua của khế, vị bùi, thơm của vừng, thịt… Hiện món chạo chân giò đang là món ăn khoái khẩu ở các quán ăn tại địa phương và nhiều nhà hàng, khách sạn trên địa bàn tỉnh.

Món chả đa vuông Bồng Hải có nguyên liệu gồm thịt nạc vai, mục nhĩ, miến, hành hoa, mùi tàu, hạt tiêu, nước mắm ngon, rau muống chẻ, bánh đa mem. Cách chế biến, khi đã có đầy đủ nguyên liệu, băm thịt nhỏ, mục nhĩ, miến, hành hoa, sau đó cho các loại gia vị mắm, muối, hạt tiêu, mì chính, cho trứng gà và rau muống chẻ vào trộn đều. Khi nguyên liệu đã được pha chế đầy đủ đem gói chả với bánh đa nem theo hình vuông rồi rán giòn. Ăn chả đa khi còn nóng với rau thơm các loại, chấm với nước chấm pha chua, ngọt vừa phải. Hiện nay món chả đa vuông đang là món ăn được nhiều người ưa thích, nhất là vào những ngày mùa đông giá rét, quây quần bên mâm cơm gia đình, đưa miếng chả giòn, thơm, ngậy, kèm thêm vài cuộng rau mùi, chấm nước mắm cay cay, cảm nhận cái thú của món ăn dân dã nhưng thật đậm đà…

Bánh đa vừng, Chạo chân giò và Chả đa vuông của xã Khánh Thiện là ba món ngon tiêu biểu được chọn ra từ 17 đặc sản của xã. Hiện các món ăn này đã được lập Hồ sơ gửi tới Tổ chức kỷ lục Việt Nam từ tháng 8-2013. Nếu được công nhận thương hiệu, ba món ngon bánh đa vừng, chạo chân giò và chả đa vuông sẽ góp phần tích cực quảng bá hình ảnh đất và người Ninh Bình nói chung, nét tinh túy ẩm thực của vùng đất Yên Khánh nói riêng. Đây cũng là hoạt động tích cực tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của xã Khánh Thiện và huyện Yên Khánh.

Theo Huy Hoàng (báo Ninh Bình)
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Cá hố tháng giêng

(QNO) - Ngó qua ngó lại, mấy ngày Tết trôi nhanh cái ù! Thịt thà bánh trái hoài rồi cũng ngán, sau Tết đi chợ các bà nội trợ ai nấy đều cũng tranh thủ lội hàng cá trước tiên, hóng mắt chờ những gánh cá bãi ngang đặt xuống để mua ít cá tươi đổi bữa cho chồng con. Chiếm phần nhiều trong mẻ cá biển đầu năm tươi rợi thường là những con cá hố với lớp phấn ánh bạc sáng trưng, mới nhìn đã thích mắt.

Bắt đầu có lác đác từ đầu tháng Chạp, nhưng qua Tết là thời điểm cá hố bắt đầu được mùa và to mập, béo thơm nhất. Con cá hố tươi biết 'chiêu" hấp dẫn các bà, các cô bởi cái vẻ ngoài rất đỗi "kiêu sa": mình dài thượt, lớp phấn sáng rỡ, loại cá hố vàng phổ biến của vùng bãi ngang Bình Minh, Tam Thanh còn hấp dẫn thêm ở lớp da hơi ửng vàng, nhìn "sướng" mắt vô cùng.

Biển đầu năm, ngư dân ra khơi đánh bắt còn thưa thớt nên mua được cá tươi, dù là cá hố dải bề ngang chỉ độ hai ngón tay hay cá hố lớn, các bà nội trợ vẫn khéo léo chế biến ra đủ món ngon. Cá tươi kho nấu kiểu gì cũng đạt. Ai chê con cá hố nhỏ mình bé xíu nhiều xương chỉ tổ gây hóc xương thì hãy thử qua nồi cá hố kho rim đi? Từng khúc cá nhỏ xíu được rim thiệt kĩ thấm thía gia vị, khô cong thơm nức, xương cũng mềm mụp còn phần thịt thì khỏi nói, mặn mặn ngọt ngọt đưa cơm thôi rồi.

Chỉ cần nghe mùi cá hố kho rim trong bếp, đám trẻ chạy ù xuống bếp dặn mẹ nấu thêm cơm. Buổi chiều ngủ dậy muộn hoặc đi đâu về, bới tô cơm nguội thêm vài miếng cá rim khô là ngon ngất trời mây. Cá hố to chừng bốn ngón tay trở lên thì càng ngon lành hơn nữa. Không cần cầu kì gì nhiều, chỉ cần kho lạt lạt với ít gia vị, dẻ miếng cá tươi rợi ngọt mềm và với cơm nóng, thêm đũa rau sống chấm nước cá kho thì thịt thà, giò chả gì cũng bị gạt qua bên hết.

Tuyệt nhất là khi mua được cá to, trong nhà lại sẵn hũ dưa cải muối chua vừa vàng tới. Hai thứ nguyên liệu không lấy gì làm cầu kì, nhưng phải "có duyên" lắm mới "hẹn gặp" được. Bởi mùa tháng Giêng phải hôm trời nắng thật to, biển thật ấm mới mong ra chợ gặp con cá hố lớn. Mà phải là con cá hố vàng chưa trầy chút phấn nào, mắt trong veo còn phần bụng thì dày lên béo mẫm mới "đạt".

Để tự tin "phối" với con cá hố cất công lắm mới mua được phải là hũ dưa cải nhà tự muối lấy, đã được rửa sạch sẽ trước khi muối, hong 1, 2 nắng cho vừa héo đem dằn nước muối lạt lạt có pha chút đường phèn cho nhanh chua và có vị ngọt thanh.

Dưa muối xổi kiểu này thường chỉ dùng trong 5-10 ngày, nên "đón" mùa cá hố tháng Giêng, những ngày cuối năm cũ dù bận tối mắt nhưng nhiều bà nội trợ vẫn cố gắng muối cho được hũ dưa là vậy. Cá làm sạch cắt khúc được ướp với gia vị để chừng nửa tiếng cho cứng mình, trút vào nồi nước đang sôi bùng rồi canh lửa liu riu chừng 10 phút cho cá chín, thêm tô dưa cải cùng ít nước muối dưa vào nồi nấu thêm chút xíu nữa là được, sao cho cái chua của dưa cải thấm với vị béo của cá tươi mà cá vẫn không nát, dưa vẫn giữ được độ giòn đặc trưng. Ngày đương xuân, xì xụp chén bún với nồi cá hố um dưa nóng hổi, cơn ngán đồ ăn ngày Tết như bị thổi bay, bữa cơm gia đình càng rôm rả và ấm áp hơn.

Gặp năm trời đẹp, cá hố rộ nhiều, những người phụ nữ miền biển khéo léo cất dành cho ngày biển động món cá hố khô. Con cá được xẻ dọc thân, ướp cái nắng ấm vừa độ đầu năm cho thật chắc mình rồi cất vào nơi kín gió. Những ngày biển động, có chục cá hố khô trong nhà là đám trẻ con coi như có "đại tiệc". Được mẹ đưa cho một, hai con là đứa nào đứa nấy mừng hí hửng, nhanh chân chạy xuống bếp cời than nướng liền liền, vừa hít hà miếng cá nướng thơm lựng vừa rỉ rả nhai, đến khi hết vẫn còn đưa tay lên mũi ngửi đầy thích thú.

Chiều được nướng cá ăn chơi nghĩa là buổi tối trông mâm cơm chắn chắn có món cá hố khô sốt với cà chua, sớ cá chắc nịch đậm đà quyện trong nước sốt mặn mặn, ngọt ngọt khiến bữa cơm ngày đông trở nên ngon lành và đáng nhớ không thể tả. Để rồi những ngày đầu năm, chuẩn bị rời quê đi học, đi làm nơi xa những đứa con xứ Quảng mắt cứ chùng chình trông vào giỏ khi mẹ từ chợ về có bóng dáng con cá hố không.

Theo Như Diệu (báo Quảng Nam)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Lẩu riêu cua đồng miệt quê

(TTO) - Không còn mộc mạc quê mùa, các món ăn làm từ cua đồng giờ đã đường hoàng đi vào nhà hàng, quán ăn, góp phần làm phong phú danh mục ẩm thực. Đáng kể trong đó là món lẩu riêu cua đồng miệt đồng.

Người miền Tây có câu Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng/ Về sông ăn cá về đồng ăn cua ca ngợi vùng đất trù phú, cá tôm hào sảng, nhất là cua. Cua đồng xưa nhiều vô số kể, nhiều đến nổi người ta bắt đem phơi khô bán cho các cơ sở chế biến thức ăn gia súc với giá rẻ như bèo. Thế nhưng, từ vài ba năm trở lại đây con cua bé nhỏ nầy lại lên ngôi, nhất là mùa nắng.

< Cua đồng mùa nắng bán với giá rất cao.

Cua là món ăn dân dã vốn chỉ là món ăn của người nghèo miệt đồng. Còn bây giờ, thịt cua giàu dinh dưỡng và có tác dụng chữa trị một số bệnh thông thường được nhiều bà nội trợ và các nhà hàng biến tấu thành nhiều món ngon, bổ dưỡng.

Ngoài việc sử dụng càng, thịt, nhiều người còn chế biến riêu cua để bán ra thị trường như một đặc sản. Muốn làm riêu, người ta rửa cua cho thật sạch, bóc bỏ vỏ yếm, nạo lấy gạch để riêng, sau cùng đem đâm hoặc cho vào máy xay thật nhuyễn. Sau đó đem lượt lấy nước rồi cho vào nồi nấu chín. Nếu chuyển đi xa thì dùng bột riêu đóng gói, ướp lạnh.

Riêu cua có thể chế biến thành nhiều món ăn khác nhau như bún riêu cua, canh cua, cháo cua… độc đáo nhất là lẩu cua đồng. Món lẩu cua tuy là món món ăn quen thuộc nhưng mỗi nơi, mỗi người đều có cách chăm chút tỉ mẫn khác nhau nhằm nâng cao chất lượng, giúp thực khách càng ăn càng khám phá ra nhiều điều thú vị.

Tại miền Tây, đa phần các nhà hàng đều chọn thịt cua đồng làm nguyên liệu chính, không đủ riêu cua tươi thì để đông lạnh. Ngoài ra còn có các loại hải sản như chả cá thát lát, chả ốc bươu, chả nghêu, hàu… tôm, mực tươi.

Muốn món lẩu cua đồng đạt mức tuyệt hảo, nồi nước lẩu ở các hàng quán còn được tinh lọc từ xương heo hoặc thịt gà, cộng thêm một số rau quả tạo vị ngọt đậm đà, tự nhiên và mùi vị đặc trưng. Một vài nơi chế biến món lẩu cua không kém phần cầu kỳ, như dùng riêu cua dồn vào mai cua, vào cọng rau muống, đậu bắp, rau ngổ… giúp người ăn thấy lạ miệng, thú vị.

Có thể coi lẩu cua đồng như một món canh ăn kèm với cơm, nhưng ở hàng quá thường ăn lẩu kèm bánh đa hoặc bún. Dù thưởng thức cách nào, món lẩu cua đồng vẫn là món ngon, hương vị lạ, hấp dẫn. Dân sành thì điệu coi đây là món “lai rai” hết ý.

Ngoài cua và hải sản, lẩu cua đồng không thể thiếu các loại rau, củ, quả nhưng phải là loại rau bình dị, thân quen và ngọt lành mới đúng điệu. Tuyệt nhất là mồng tơi, rau dền, rau cần nước, cải trời, tía tô, bầu, mướp, bông bí, điên điển, lục bình… và các loại nấm. Không chỉ kích thích vị giác, chúng nó còn có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thực.

Nhìn các món ăn phơi bày trên nồi lẩu một cách hài hòa đẹp mắt với đầy đủ màu sắc, mùi vị quyến rũ cũng đủ tác động vào mọi giác quan.

Bên cạnh nồi lẩu tỏa hơi nghi ngút, chỉ cần một làn khói mỏng bốc lên từ cái mùi thanh tao dịu ngọt của miếng riêu cua hòa cùng thứ nước mằn mặn, cay cay thơm nồng, cũng đủ làm cho người ăn háo hức, ăn đến vã mồ hôi mà vẫn thấy thèm. Mùi vị quấn quýt mãi không thôi.

Theo Hoài Vũ (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Rượu men lá của người Nùng

Lục Ngạn, vùng đất mang nhiều dấu ấn văn hóa của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử. Nói tới Lục Ngạn, mọi người đều biết đến đặc sản vải thiều Lục đã nổi tiếng trong và ngoài nước và nhiều loại nông sản khác cũng nổi tiếng không kém như hồng không hạt, mật ong rừng và nhiều đặc sản khác nữa của huyện.

Nhưng, vùng đất Lục Ngạn còn một đặc sản vô cùng ý nghĩa mà bất cứ ai đã từng đến nơi đây cũng không thể quên mang về làm quà cho người thân, đó chính là đặc sản rượu Kiên Thành. Rượu Kiên Thành không được nhiều người biết tới như rượu Vân (Việt Yên), rượu Kim Sơn (Ninh Bình) và nhiều loại rượu khác nữa, nhưng ai đã một lần được uống rượu Kiên Thành chắc không bao giờ quên được thứ rượu mang hương vị của núi rừng Lục Ngạn.

Kiên Thành là một xã vùng cao của huyện Lục Ngạn. Từ thành phố Bắc Giang ngược theo quốc lộ 31 tới thị trấn Chũ (trung tâm - huyện lỵ của Lục Ngạn) chừng 40km. Từ thị trấn Chũ theo đường đi Kiên Lao 7km là đến trung tâm của xã nằm ở phía bắc của huyện lỵ Lục Ngạn. Phía bắc giáp xã Sơn Hải, nam giáp xã Trù Hựu, đông giáp xã Thanh Hải và phía tây giáp xã Kiên Lao. Trước cách mạng tháng Tám 1945 miền đất này thuộc tổng Kiên Lao, huyện Lục Ngạn. Sau cách mạng tháng Tám - 1945 thuộc xã Kiên Lao, cho tới tháng 7 – 1958 chia xã Kiên Lao thành hai xã Kiên Lao và Kiên Thành. Nghề nấu rượu ở đây không biết đã có từ bao giờ nhưng hương vị của nó từ lâu nay vẫn mang hương vị của núi rừng nơi đây.

Trải qua bao năm tháng người Nùng nơi đây vẫn giữ được bí quyết tạo nên hương vị của thứ rượu men lá đậm đà hương vị núi rừng. Men rượu Kiên Thành được làm từ nhiều thứ lá và rễ cây được lấy từ trên núi về  vò lấy nước ủ men. Theo những người nấu rượu lâu năm trong vùng nói về bí quyết của việc làm men thì để làm được loại men ngon thì phải lấy được cây trăm rễ một loại cây trên rừng về ngâm ủ rồi mới làm thành men. Khi đã làm được men thì mới tới công đoạn chọn gạo nấu cơm rượu và ủ men rượu.

Loại gạo được chọn nấu rượu  phải là loại gạo bao thai hồng không được xay trắng làm mất lớp gạo nức bên ngoài mà chỉ xay cho hết vỏ chấu được nấu thành cơm nấu cơm rượu cũng là một nghệ thuật. Cơm phải được nấu bằng củi chứ không nấu bằng than hay bếp gas và cơm nấu phải vừa chín tới không được cứng cũng không được quá nát. Cơm nấu xong để nguội  rồi mới trộn với men đã được xay nhỏ.

Sau đó hỗn hợp trên sẽ được đem vào các chum vại sành, sứ ủ khoảng ba, bốn ngày cho đến khi ngấu men thì mới đổ nước vào thời gian ngâm nước khoảng hai, ba  ngày rồi mới đem ra chưng cất thành rượu.

Nấu rượu cũng là một nghệ thuật không phải nấu sao cũng được. Người Nùng ở Kiên Thành vẫn duy trì kiểu nấu rượu truyền thống của mình đó là kiểu nấu “ba ba”. Vật dụng để nấu ruợu cũng đơn giản, đó là một nồi bằng đồng hoặc nhôm, một chõ nấu rượu một chiếc chảo bằng gang hoặc nhôm đều được, một mảnh gỗ đục hình con ba ba một ống nứa và một chiếc chum hoặc can để đựng lấy rượu chẩy ra.

Sau khi cái rượu ngâm nước đã ngấu kỹ người nấu rượu cho vào nồi rồi đặt chiếc chõ trong đó đã có sẵn mảnh gỗ đục hình con ba ba vào rồi đặt lên đó chiếc chảo sau đó dùng hỗn hợp cám hoặc do bếp đắp vào các khe hở sao cho hơi nước không thoát ra ngoài được, đổ nước lạnh vào chảo trên cùng rồi đun nhỏ lửa cho tới khi  nồi cái rượu sôi bốc hơi nên gặp chảo nước lạnh sẽ ngưng tụ thành giọt nuớc và rơi vào mảnh gỗ đục hình ba ba và chảy ra ngoài theo đường ống.

Mỗi khi thấy nước trên chảo nóng phải thay nước đó bằng nước khác. Cứ như vậy cho tới khi nào người nấu rượu lấy đủ số lượng rượu tương ứng với số gạo thì thôi. Thông thường thì một kg gạo tương ứng với 1 lít ruợu. Cứ mỗi khi đến mùa cưới tức là khoảng tháng 8 tới cuối năm âm lịch thì đó là mùa nấu rượu được nhiều nhất.

Ngày trước người Nùng nơi đây dùng nước suối để nấu rượu tuy nhiên do ảnh hưởng của khí hậu ô nhiễm nên hiện nay không dùng nước suối mà dùng nước giếng khoan để nấu rượu, nhưng kỹ thuật và cách ngâm ủ men của người Nùng nơi đây vẫn mang hương vị truyền thống.

Ai đã một lần đến với Lục Ngạn và được thưởng thức đặc sản rượu Kiên Thành chắc sẽ không bao giờ quên được hương vị của rượu nơi đây chính vì hương vị đặc trưng của núi rừng Lục Ngạn  mà mỗi người tới đây đều mang về một vài lít rượu về làm quà cho người thân cũng là một cách quảng bá cho một đặc sản của núi rừng nơi đây.

Theo Vanhoabacgiang
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Đặc sản ếch hương Mẫu Sơn

(LSO) - Ẩm thực Việt Nam vốn rất phong phú đa dạng về nguyên liệu, phương thức chế biến, nguyên lý pha trộn gia vị, thói quen ăn uống, đặc trưng khí hậu, thổ nhưỡng từng vùng, sự giao thoa văn hóa…

Tất cả đã tạo ra những sản vật nổi tiếng và quý hiếm từ xưa đến nay. Theo sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn, "ở các vùng đất phương nam, thổ ngơi có nhiều gừng và khoai, sông và ao thì có nhiều cá và ếch, những người nghèo nhờ đó mà khỏi lo đói rét". Như vậy cho thấy từ xa xưa cha ông ta đã biết sử dụng thịt ếch. Thế nhưng coi nó là sản vật thì phải kể đến một loài ếch quý hiếm, có giá trị ẩm thực và kinh tế cao đó là ếch hương Mẫu Sơn.

Gọi là ếch hương vì thịt của có mùi thơm đặc trưng, không tanh như ếch đồng, có thế chế biến thành nhiều món khác nhau.

< Nếu đưa ngón tay vào bụng ếch hương, ngay lập tức nó sẽ dùng hai chân trước kẹp chặt tay người.

Ếch hương Mẫu Sơn chỉ sống ở trên các hang hốc, vách đá khe suối nước lạnh quanh năm thuộc vùng núi Công Mẫu Sơn ở độ cao trên 1000m. Núi Mẫu Sơn dựng sừng sững là nơi cao nhất khu vực Đông Bắc nước ta, quanh năm mây phủ, nhiệt độ trung bình chỉ 15,50C, thỉnh thoảng có tuyết rơi vào mùa đông.

< Theo nhiều người dân địa phương thì chỉ người Dao trên đỉnh Mẫu Sơn mới biết săn ếch hương.

Ếch hương là giống ưa lạnh, nhiệt độ của vùng núi có khi xuống tới âm độ ếch hương vẫn sống. Giống ếch này có bề ngoài khá đặc biệt, cặp đùi béo mập lớn hơn hẳn ếch đồng. Nếu ếch đồng chỉ nặng độ trên dưới 100g/con, thì ếch hương có con nặng tới gần 500g/con, đùi to như đùi gà ri.

Chúng có khả năng biến đổi màu sắc để trốn tránh kẻ thù và theo sự biến đổi của thời tiết, môi trường sống. Chân và ngực loại ếch này còn có "gai” để bám vào vách đá khi leo trèo, khi chạm nhẹ tay vào lớp "gai” này, ếch sẽ tự khoanh tay lại.

Mùa sinh sản của ếch hương vào tháng 2,3 âm lịch, khi những cơn mưa đầu tiên rơi xuống. Mỗi lần sinh sản khoảng 2500-3000 trứng nên ếch hương là loài có khả năng gây đàn tương đối nhanh. Đến mùa thu khoảng tháng 7- 8 âm lịch là thời điểm ếch hương đạt được trọng lượng và chất lượng cao nhất.

Thịt của giống ếch này rất chắc, thơm ngon, đặc biệt không hề có mùi vị tanh.

Bà con thường chế biến ếch hương thành các món như: ếch hương chiên giòn, ếch hương nấu măng chua, lẩu ếch hương, ếch hương tẩm bột rán, xào sả ớt, nấu cháo, ếch hương hầm thuốc bắc, hấp cách thủy… món nào cũng có hương vị đặc trưng và giá trị dinh dưỡng rất cao. Cách chế biến kết hợp với các loại gia vị để cân bằng âm dương trong quy tắc ẩm thực đã nâng tầm món ăn dân dã có từ xa xưa thành món đặc sản thơm ngon bổ dưỡng.

Ngày nay, du khách đến Mẫu Sơn sẽ được thưởng thức món ếch hương nóng hổi, thơm lừng, nhâm nhi với chén rượu Mẫu Sơn trong tiết trời se lạnh, sương mù phảng phất, tận hưởng hương vị đặc sản của vùng cao.

Theo langson.gov.vn
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Những phố ăn uống nổi tiếng ở Sài Gòn

Đường Nguyễn Tri Phương (quận 10) được biết đến với các quán chè Thái hay con đường Hồng Hà (quận Tân Bình) nổi tiếng là nơi tập trung các món ăn Bắc ở Sài Gòn.

Sài Gòn từ lâu được biết đến như là một thành phố không bao giờ ngủ với những quán ăn, nhà hàng không khi nào đóng cửa. Bất cứ lúc nào và thời gian nào, chỉ cần bước chân xuống đường là bạn đã có thể tìm thấy cho mình một món ăn ngon miệng. Cho dù đó là một đặc sản của núi rừng Tây Nguyên hay món ăn dân dã ở miền Trung xa xôi... bạn đều có thể tìm thấy ở Sài Gòn. Không chỉ có vậy, ở Sài Gòn còn hình thành nên nhiều con phố tập trung nhiều quán ăn ngon, trở thành địa chỉ quen thuộc mà chỉ cần nói đến tên đường là bạn có thể biết được ở đó có những món ăn gì và bán vào thời gian nào...

1. Đường Nguyễn Tri Phương - quận 10

Nói đến con đường này, nhiều người nghĩ ngay đến món chè Thái nổi tiếng ở đây. Có ít nhất 5 quán chè Thái luôn tấp nập khách ra vào mỗi khi đêm về. Món chè hấp dẫn bởi sự đa dạng về màu sắc, mùi vị nào là sầu riêng, mít thơm lừng, sapoche dẻo, nhãn tươi, hạt lựu, bông tuyết, rau câu thái sợi, nước cốt dừa, sương sa... Cái vị beo béo của sữa tươi và thơm đậm của sầu riêng làm cho thực khách thích mê mỗi khi thưởng thức món ăn này.

Ngoài chè Thái, con đường này còn thu hút thực khách với nhiều món ăn ngon miệng khác nhau. Bạn sẽ đếm được không dưới 10 quán phở với nhiều thương hiệu nổi tiếng ở Sài Gòn. Bên cạnh đó là các quán hủ tiếu Nam Vang, bánh canh ghẹ, cơm tấm... Vào những ngày trời trở lạnh, lẩu là món ăn khó có thể bỏ qua. Một món lẩu trở thành đặc sản ở đây là lẩu que (lẩu tự chọn). Khi ăn món này, các nguyên liệu tươi ngon như tôm, cua, cá, mực, nấm, hải sản... được bày sẵn để thực khách tha hồ lựa chọn theo ý thích của mình.

2. Đường Nguyễn Hữu Cầu - quận 1

Nằm ngay bên hông chợ Tân Định, con đường Nguyễn Hữu Cầu tuy nhỏ nhưng từ sáng đến khuya không lúc nào vắng thực khách. Nổi tiếng nhất là các món ăn Huế, có thể nói ở đây có gần như đầy đủ các món ăn nổi tiếng xứ Huế như: bánh bèo, bánh lọc, bánh canh Nam Phổ, bánh nậm, nem nướng, bún bò.... với vị cay xé lưỡi đặc trưng khiến thực khách phải xuýt xoa khi thưởng thức.

Ngay đầu đường bên hông chợ Tân Định là một dãy các hàng quán bán mở cửa từ sáng sớm đến tối mịt với đủ các món cơm, phở, cháo, hủ tiếu, bánh canh hay các món chè... Các món ở đây đều dễ ăn, vừa miệng cũng vừa túi tiền nhưng lại không đặc sắc nên ít để lại ấn tượng cho người ăn. Ngoài ra, bạn cũng có thể thưởng thức các món ăn Thái với mức giá tương đối rẻ ở khu vực này.

3. Đường Hồng Hà - quận Tân Bình

Nói về các món ăn Bắc, thì đây là con đường tập trung nhiều món Bắc nhất ở Sài Gòn. Ngoài món phở, bạn có thể kể tên hơn 10 món Bắc được bán trên con đường này như: nem tai, bún đậu mắm tôm, bún cá rô đồng, bún chả, cháo sườn, bánh đa cua, bún ốc...

Theo nhiều thực khách đánh giá thì các quán ăn ở khu vực này vẫn giữ được hương vị đặc trưng của người Bắc trong từng món ăn của mình. Ngoài các thực khách là người gốc Bắc, thực khách ở các địa phương khác cũng thường tìm đến đây khi muốn tìm một món ăn vừa ngon vừa lạ miệng.

4. Đường Phan Xích Long - quận Phú Nhuận

Không chỉ được mệnh danh là 'con đường cà phê', đường Phan Xích Long còn là nơi tập trung rất nhiều quán ăn hấp dẫn đủ ba miền Bắc - Trung - Nam. Đến đây, bạn có thể dễ dàng thưởng thức một bát bún bò cay xé lưỡi đúng chất Huế hay tô bún cá thanh ngọt của người Đà Nẵng. Thực khách cũng có thể thưởng thức món bún đậu mắm tôm nồng nàn của miền Bắc hay bát phở hai tô (phở khô) bốc khói của phố núi Pleiku.

Sau những cơn mưa chiều hay những buổi tối trở gió, những xe ngô luộc hay khoai lang nướng luôn được người đi đường ưu ái lựa chọn. Bạn cũng không thể bỏ qua các quán ốc, quán hải sản hay chân gà nướng luôn tấp nập thực khách ở khu vực này.

Ngoài những con phố điển hình kể trên, ở Sài Gòn còn rất nhiều địa điểm khác cho bạn chọn lựa như phố cá lóc nướng Tân Kỳ Tân Quý (quận Tân Phú), phố bánh canh Trần Khắc Chân (quận 1), phố món ăn miền Trung ở Trần Mai Ninh (quận Tân Bình) hay phố món Bắc ở Phạm Văn Hai (quận Tân Bình)...

Theo Ngoisao
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Lẩu cá ngát nấu bông lục bình

(TTO) - Đến đồng bằng sông Cửu Long, được tận mắt chứng kiến các chuyên gia ẩm thực đã trình diễn các món ăn mang tính đặc trưng của vùng miền, trong đó có món canh chua cá ngát nấu bần ăn kèm với bông lục bình có lẽ sẽ không gì sánh bằng.

< Lẩu cá ngát ăn với bông lục bình.

Cách chế biến một nồi canh chua hoặc lẩu cá ngát nấu bần cũng giống như những nồi canh chua khác, chỉ có “bần” là thứ trái đặc trưng dùng thay cho  chanh, me, xoài, giấm, cơm mẻ…

Muốn ăn mắm sặt bần chua. Chờ mùa nước nổi ăn cho đã thèm. Bần tuy là một loại trái có cái tên dân dã quê mùa nhưng đã đi vào văn học dân gian và trở thành huyền thoại kể từ khi Nguyễn Ánh được người dân địa phương mời ăn mắm cá chốt với bần chua. Cảm thấy ngon miệng nên ông đã đặt cho loại trái nầy một cái tên mỹ miều là thủy liễu.

< Trái bần vừa hái.

Trước khi nấu canh chua, người ta chọn vài ba trái bần chín cây, dùng chài nhỏ đăm cho vập nát rồi quậy đều, lượt lấy nước cốt. Đợi cho nồi nước thật sôi, cá vừa chín mới cho nước bần vào từ từ và nêm nếm đến khi vừa miệng ăn.
Bần có vị chua thanh, dìu dịu, khi phối ngẫu với các loài cá và gia vị sả, ớt một cách tinh tế sẽ tỏa ra mùi thơm quyến rũ. Chỉ cần húp một muỗng cũng cảm thấy ngất ngây, càng ăn càng háo hức.

Món canh chua của người đồng bằng ngon hay không là ở chỗ chăm chút tỉ mẫn và chuẩn bị đầy đủ từ nguyên liệu đến cách chế biến và phong cách trình bày sao cho hấp dẫn. Món này nhất định không thể thiếu các loại rau vườn như húng quế, húng lủi, ngò om, ngò gai, cà chua. Gần đây các bà nội trợ, các quán ăn đặc sản, nhất là những tay sành điệu ẩm thực đã sử dụng bông lục bình và ngó lục bình để tạo ra những món ăn nhớ đời, hấp dẫn nhất là bông lục bình chấm mắm kho hoặc ăn kèm với các món lẩu.

< Bông lục bình dân dã mà ngon.

Lục bình là một loài thủy thảo, còn có tên bèo tây, có rất nhiều trên các kênh rạch, sông ngòi. Xưa kia, lục bình chỉ là một loài thủy sinh lênh đênh trôi theo dòng nước nên ca dao có câu: Nước chảy liu riu. Lục bình trôi riu ríu. Anh thấy em nhỏ xíu anh thương. Thế nhưng, gần đây loài thủy sinh nầy đã trở nên đa dụng.

Lục bình không chỉ có ích cho nhà nông mà còn là một thứ rau sạch, thuộc nhóm thức ăn xanh có thể dùng ăn sống, luộc, xào, nấu canh... Theo y học cổ truyền, bông lục bình và cọng lục bình có nhiều chất xơ, chứa nhiều vitamin C, tính mát, vị lạt, hoa luộc hoặc ăn sống đều ngon.

Cá ngát là loại cá thịt ngon, ngọt, hơi dai, nhiều đạm, ít chất béo. Món canh chua cá ngát tuyệt nhất là trứng cá, một loại trứng to bằng hạt tiêu, kết lại thành chùm, nấu chín có mùi thơm ngậy. Các tay sành điệu coi trứng cá ngát là món “độc nhất vô nhị” trong ẩm thực dân gian. Vào mùa sinh sản, bình quân mỗi con cá mẹ mang trong mình một bầu trứng thật to, nặng  200-500g.

< Cá ngát sông Hậu.

Lẩu cá ngát là món ăn vừa ngon vừa bổ dưỡng, hấp dẫn nhất là chan bún ăn lúc còn bốc khói. Nếu để lửa liu riu, giữ ầm nối canh cho tới tàn tiệc, người ăn càng cảm thấy hân hoan thích thú, húp tới muỗng nước cuối cùng vẫn thấy còn ngon. Chính mùi thơm ngon của cá hòa quyện cùng với vị chua thanh của bần và mùi vị đặc trưng của bông lục bình đã giúp người ăn đủ xuýt xoa, đầu óc tỉnh táo ngay.

Gắp một chùm bông lục bình, nhúng vào nước lẫu chua chua, mằn mặn, ngòn ngọt rồi đưa vào miệng nhai chầm chậm để lắng nghe cái hương vị nguyên sơ và mộc mạc quê nhà. Mềm mại, giòn, thanh tao, ăn vào cảm thấy ngon ngon, bùi bùi mà còn tăng thêm sảng khoái.

Cái tính dân dã, mộc mạc của loài hoa nầy cứ mỗi lần ăn là mỗi lần gợi lại trong tôi nhiều ký ức về một miền quê nghèo khó thuở còn thơ.

Theo Hoài Vũ (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Những gánh hàng rong ở Huế

Buổi sáng, những con đường phố ở Huế không thức dậy một cách vội vã. Có lẽ nhộn nhịp nhất chỉ có khu vực cầu Tràng Tiền: những dòng xe cộ ngược xuôi chở hàng hóa về bên kia, bên này… Và những gánh hàng rong từ các vùng lân cận cũng theo đó rảo bước nhanh nhịp nhàng đôi quang gánh về phố cho kịp phục vụ người ăn sáng.

Hàng rong ở Huế đủ các loại món ăn bình dân. Sáng sớm từ An Lăng, An Cựu, Nam Phổ, Vỹ Dạ, Cồn Hến… hàng bánh canh, bún đổ về phố. Một số gánh qua những con phố ở phía chợ Đông Ba, một số rảo gánh bên này cầu Tràng Tiền. Trên đường Trần Hưng Đạo phía trước chợ Đông Ba, là nơi tập kết ngô (bắp) luộc từ Kim Long chở đến, để từ đây phân phối đi khắp nơi.

Gánh bánh canh hay các loại bún đều giông giống nhau: một đầu gánh là trả lửa hình vuông có nồi nước lèo đặt bên trên. Đặc biệt, chỉ đến Huế người ta mới gặp lại cái nồi nhôm dạng hình cái chum, có người gọi là nồi gương. Đầu gánh bên kia là tô, chén, dĩa và đủ thứ linh tinh phục vụ cho một tô bún có đủ: rau, mắm, hành…

Bánh canh buổi sáng thường là bánh canh bột gạo, buổi chiều mới có bánh canh cua bột lọc. Nồi bánh canh cũng như nồi bún bò: cũng thịt, cũng giò, da heo, có thêm chả cá… Bún gánh (từ đặc biệt dành cho gánh hàng rong) có đủ loại: bò, cá, hến, riêu… Tôi đã ăn những tô bún bò từ trong các tiệm lớn đến những gánh hàng rong và nhận xét một điều rằng: bún bò tại đây, không giống như ở các thành phố khác.

Cái khác trước nhất là rau không phải là rau xắt ghém nhất là rau được lặt thành từng lá nhỏ (xà lách, rau thơm, hành có nơi cũng không xắt thành hành hoa, mà cắt thành từng đoạn nhỏ); cái khác thứ hai là trong nồi bún có chả lụa, gọi là giò (không biết có phải thay cho giò heỏ): thịt chả lụa được vắt thành từng vê nhỏ, nổi lên phía trên mặt nồi nước lèo; cái khác thứ ba là nếu muốn, tô bún sẽ có thêm thịt bò tái (giống như ăn phở). Rồi tùy theo yêu cầu của khách, tô bún sẽ có đầy đủ (giò heo, giò lụa, thịt bò gân, nạm, bò tái) hay chỉ có một vài thứ (có giò heo thì không có giò lụa, có bò tái thì không có bò gân…). Đặc sản của Huế mà bất kỳ ai đến đây cũng phải tìm ăn cho bằng được: cơm hến.

Hàng cơm hến nào cũng kèm theo bún hến. Thúng bún được phân làm hai bằng miếng nylon: một bên là bún, một bên là cơm, khách ăn món nào gia vị kèm theo đặc trưng của món ấy (đậu phộng chiên còn nguyên hạt, dầu ăn đã khử với ớt mầu thật cay, mắm ruốc…). Đặc biệt chỉ có món này mới thấy rau ghém thái chỉ, gồm có rau môn, xà lách, bắp chuối, rau thơm… xắt thành sợi rất nhuyễn. Cồn Hến là nơi chuyên cung cấp hến cho các hàng ăn, hến được lấy thịt bằng cách bỏ vào rổ và xát, thịt hến bong ra, ở đây người ta cũng cung cấp luôn nước hến. Hàng ăn chỉ việc đến mua thịt hến và nước hến về rồi chế biến tiếp.

Ngoài hàng “gánh”, còn có hàng “nách”. Tầm sáng sớm có các nách bánh mì, xôi, bắp… cũng một điều rất khác ở Huế là rau bỏ vào bánh mì ngoài hành, dưa leo còn có thêm rau răm và thịt thường là thịt nhưng có nước xốt chế vào, ăn cũng hay hay, là lạ… Hàng nách còn có nách bánh bèo, nậm, lọc, ram ít, bánh ướt cuốn thịt nướng, bún thịt nướng… Bánh bèo Huế rất mỏng và có đường kính gần bằng chén chè, xếp vào cái đĩa nhìn thấy được cả hoa văn của dĩa ở bên dưới, không phải là loại bánh bèo đổ trong chén nhỏ, dày cui khi ăn phải múc bằng thìa. Người Huế giải thích ăn bánh bèo mỏng như vậy mới thấm nước mắm! Đặc biệt, bún thịt nướng hay bánh ướt thịt nướng (bánh ướt bọc bên trong là thịt nướng) ăn với một loại nước chấm được chế biến rất ngon.

Các món ăn Huế bây giờ không có vị cay như trước, ai muốn ăn cay, thì bỏ thêm ớt được xắt lát trong các tô mắm. Tầm tháng tư, không có ớt xiêm, mà chỉ có loại ớt sừng mầu xanh, tưởng là không cay, thế nhưng ăn một miếng là cay xé lưỡi, còn hơn cả ớt xiêm.

Hàng rong ở Huế, mỗi món gắn liền với một địa danh đặc thù, nói đến bánh canh phải là bánh canh Nam Phổ, các loại bún phải xuất phát từ An Cựu; bắp hầm ở Kim Long… Về khoản vệ sinh an toàn thực phẩm của những gánh hàng rong? Thú thật là người trong nghề tiêu chuẩn đo lường chất lượng gần hai mươi năm, ban đầu tôi cũng hơi ngài ngại, nhưng cái ý muốn khám phá và cái tật thèm ăn quà rong đã khiến tôi “cầm lòng không đậu”. Buổi sáng đi bộ lang thang trên đường Hùng Vương, tôi ngồi sà xuống một gánh bún bò có đầy đủ thứ: giò lụa, thịt bò nạm, gân, thêm vài miếng da heo…

Một đầu quang gánh của cô bán hàng là nồi nước lèo, đầu gánh bên kia là rổ bún và “đồ mầu phụ trợ”, rổ rau tươi trông có vẻ ngon mắt và sạch sẽ.

Thử đến Huế một lần, sáng sớm tinh mơ bạn sẽ gặp hình ảnh từng tốp những người gánh hàng rong đi cùng với nhau từ một vùng nào đó đổ về phố, dừng lại đặt cái đòn gánh xuống đất làm đòn ngồi, nghỉ một chút trên đường, có người phe phẩy chiếc nón lá cho đỡ mệt, có người cời lại bếp than cho đỏ lửa, rồi bắt đầu tỏa đi khắp nơi. Ngồi xuống bên các gánh hàng rong, bạn sẽ có cảm giác của người không bị ràng buộc bởi công việc: muốn ăn gì thì ăn, gặp gì ăn nấy… Sáng sớm bạn sẽ thấy bánh canh, các loại bún, bánh mì, xôi bắp, bánh bèo…

Trễ hơn một chút có đủ các loại chè (chè nóng, chè lạnh) hay các loại nước đậu nành, đậu ván, đậu hủ (cũng là một đặc biệt nữa, đậu hủ ở đây không ăn với nước đường đã thắng bỏ thêm gừng mà lại ăn với đường cát trắng tinh, vắt vào tí chanh, chỉ có 500 đồng một chén mà người bán hàng cho vào cả muỗng súp đường cát trắng).

Trưa hơn chút nữa có các hàng “đồ trái”, đó là các gánh trái cây (vải, nhãn, bơ, cam…) xuất phát từ chợ Đông Ba, lúc này cũng có các gánh rau bán dạo cho những nhà ở phố. Sau giấc ngủ trưa, xê xế có bánh bèo, nậm, lọc, ram ít, bún thịt nướng, bánh canh bột lọc, chè…
Các gánh này có thể bán đến chiều xẩm tối.

Để khám phá Huế, người ta phải mất nhiều năm, có khi cả đời cũng không hết, nhưng chỉ cần vài ngày lang thang ở Huế, bạn cũng sơ sơ biết Huế, và bắt đầu yêu Huế. Yêu những con đường nhỏ nhỏ có ai hàng cây suốt ngày chụm đầu vào nhau rì rầm kể chuyện, yêu những chiếc lá bay bay trong buổi sáng tinh tươm, yêu cổ thành bí ẩn, yêu dòng sông Hương lặng lờ trôi, êm đềm buổi sáng, lười biếng buổi trưa, mềm mại buổi chiều, để rồi bất chợt buột miệng hát lên: “Vẻ đẹp Huế chẳng nơi nào có được”. Và một trong những vẻ đẹp cổ kính đó, những gánh hàng rong cũng là một đặc thù của thành phố du lịch nổi tiếng thơ mộng và dịu dàng này.

Mời bạn, hãy tạm xa rời các nhà hàng sang trọng, một lần đến với các gánh hàng rong để tận hưởng cho bằng hết cái thú của người đi du lịch.

Theo Văn Hóa Huế, ảnh internet
Du lịch, GO!
 

Sample text

Sample Text

Sample Text

 
Blogger Templates