Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Bảo tàng Đông Nam Á - Hà Nội

(BAVN) - Bảo tàng Đông Nam Á là bảo tàng đầu tiên về văn hóa các nước Đông Nam Á, một trong những điểm kết nối giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa các nước trong khu vực.

< Bảo tàng Đông Nam Á mang kiến trúc đặc trưng, nằm trong khuôn viên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

Bảo tàng Đông Nam Á trực thuộc và nằm trong khuôn viên Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, là công trình chào mừng kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.


< Bộ Dao cau của Malaysia.

Tòa nhà bảo tàng có diện tích gần 500m2, được thiết kế theo hình cánh diều thể hiện văn hóa Đông Nam Á. Đây là thành quả của sự đầu tư từ Chính phủ Việt Nam và sự hợp tác của một số chuyên gia Pháp trong khuôn khổ dự án "Phát huy di sản bảo tàng Việt Nam" do Chính phủ Pháp tài trợ.

< Dao hộ thân của người dân Indonesia.

Để có một cái nhìn khái quát về văn hóa Đông Nam Á, trong 5 năm qua, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã thực hiện nhiều chuyến đi nghiên cứu, sưu tầm hiện vật và tư liệu ở các nước trong khu vực. Với hơn 2.000 hiện vật và gần 100 băng ghi âm, ghi hình, tư liệu quan trọng tạo dựng trưng bày để khách tham quan có một cái nhìn đầy đủ về văn hóa các nước Đông Nam Á.

< Bộ giá đựng trầu của người Malaysia.

Ngoài ra, Bảo tàng được thừa hưởng nhiều bộ sưu tập quí của các nhà khoa học ở các nước hiến tặng với gần 400 hiện vật và 130 ảnh, kèm theo là hệ thống thông tin bao gồm bản đồ, các chú thích, bài viết và phim video, được bố trí trong không gian rộng gần 500m2, ở tầng 1 của tòa nhà 4 tầng.

< Âu của người Campuchia.

< Sách lá cọ của người Lào.

< Rối bóng của Indonesia.

Việc trưng bày được tổ chức theo phong cách cách hiện đại, mang tính khoa học và mỹ thuật cao thông qua 5 chủ đề chính: đồ vải, đời sống hàng ngày, đời sống xã hội, nghệ thuật biểu diễn và tôn giáo. Nhiều yếu tố văn hóa của các cư dân Đông Nam Á được thể hiện, gợi mở về một Đông Nam Á đa dạng, thống nhất trong văn hóa và lối sống.

< Bộ đồ của các thầy cúng Malaysia.

< Đầu tượng phật được làm bằng gỗ, sơn mài mạ vàng ở Myanmar.

Khách tham quan bảo tàng có thể tìm hiểu sự đa dạng của văn hóa các nước Đông Nam Á. Chẳng hạn như bộ sưu tập trưng bày rối của các nước Indonesia và Myanmar có nhiều đặc điểm tương đồng với rối nước Việt Nam. Hay như các hiện vật trưng bày về đạo Phật các nước Thái Lan, Lào, Camphuchia và Việt Nam thể hiện con đường truyền giáo và ảnh hưởng của Phật giáo đến sự hình thành văn hóa các nước.

< Cuốn kinh Coran của Singapore.

< Du khách thích thú với tủ trưng bày những chiếc mũ truyền thống của các dân tộc Trung Quốc.

Bà Lê Thị Thanh (Đống Đa, Hà Nội) chia sẻ cảm xúc của mình khi đi thăm bảo tàng: “Thông qua việc tham quan, tìm hiểu các hiện vật trưng bày, tôi như được đi du lịch đến các nước Đông Nam Á. Tôi đặc biệt thích thú với bộ trang phục cô dâu của nước bạn Lào vì tính độc đáo của nó”.

< Bảo tàng Đông Nam Á hiện là nơi mỗi ngày thu hút rất đông các lượt khách tới tham quan.

Bảo tàng Đông Nam Á là một minh chứng sống động cho quan điểm, tầm nhìn cũng như quyết tâm của Việt Nam trong việc tăng cường giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, hướng tới xây dựng cộng đồng ASEAN - ngôi nhà chung của các quốc gia Đông Nam Á.

Theo Thông Thiện - Tất Sơn (Báo Ảnh VN)
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 16 tháng 1, 2014

Địa đạo trên vùng đất lửa Vĩnh Linh

(TBKTSG Online) - “Ai về đất mẹ Vĩnh Linh, quê tôi có dòng Bến Hải ân tình nặng sâu...”. Câu hò ngày nào vẫn còn vang vọng như tiếp thêm sự hứng thú cho chúng tôi khi tìm về vùng đất Vĩnh Linh (Quảng Trị), nơi có một hệ thống địa đạo lớn nhất nước trong thời chiến tranh.

< Biển Cửa Tùng, nơi có cửa địa đạo nối liền liên lạc với đảo Cồn Cỏ, một tiền đồn nổi tiếng thời chiến tranh ác liệt.

Câu chuyện về địa đạo Vịnh Mốc như huyền thoại, thể hiện bản lĩnh can trường và ý chí sắt đá của người dân Vĩnh Linh được chứng minh bằng những địa đạo, hầm hào như thiên la địa võng trong lòng đất.

< Dọc đường đến khu địa đạo Vịnh Mốc, du khách sẽ gặp những hố bom còn sót lại.

Từ thành phố Đông Hà - trung tâm hành chính, thương mại tỉnh Quảng Trị, mất khoảng hơn 1 giờ chạy xe máy theo quốc lộ 1A ra phía bắc rồi rẽ vào nhánh đường nhỏ xuống biển, chúng tôi đến được địa đạo Vịnh Mốc (thôn Vịnh Mốc, xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh).

< Lối vào địa đạo Vịnh Mốc xanh rợp bóng mát của các hàng tre.

Hai bên đường vào Vịnh Mốc, những rặng tre xanh mượt tỏa bóng mát rượi, cảnh đồng quê yên bình mặc cho cái nắng gay gắt của mùa hè miền Trung. Thật không ai có thể tưởng tượng mỗi con người nơi làng quê nhỏ bé này đã từng phải hứng chịu lượng bom đạn khủng khiếp thế nào trong thời chiến. Trên đường vào địa đạo, chúng tôi bắt gặp nhiều công trình quân sự, từng gắn bó với người dân Vĩnh Linh như hầm tránh bom các loại, nhiều nhất là hầm chữ A được đặt ở gần trường học, giao thông hào.

< Những lối giao thông hào chằng chịt phía trên địa đạo.

Tiếp tục đi sâu vào bên trong, du khách không khỏi bất ngờ trước một hệ thống giao thông hào chằng chịt.

< Trong những năm chiến tranh ác liệt, vào thời điểm đông nhất có khoảng 1.200 người sinh sống dưới hệ thống địa đạo này. Trong gần 2.000 ngày đêm tồn tại, trong lòng địa đạo không một người nào bị thương hay chết do bom đạn. Ảnh: Sơ đồ tổng quan địa đạo Vịnh Mốc được treo trong nhà trưng bày lịch sử.

< Có những chỗ lối đi trong địa đạo rất hẹp, chỉ đủ hai người tránh nhau.

Thỉnh thoảng lại thấy những hố bom lớn như cái ao. Và cuối cùng, mong ước được trực tiếp chui vào địa đạo, được sờ tận tay, thấy tận mắt cũng được thỏa mãn khi cửa hầm hiện ra trước mắt chúng tôi.

< Không khí làm cho đất sét trong lòng địa đạo càng ngày càng cứng chắc hơn nên nó vẫn tồn tại gần như nguyên bản cho đến tận ngày hôm nay. Ảnh: Những giếng trời là đường thông hơi đưa không khí xuống địa đạo.

Dù đã nghe nhiều về địa đạo Vịnh Mốc nhưng khi đến tận nơi, mắt thấy, tai nghe không ai không khỏi thán phục.

< Hầm chứa vũ khí.

Địa đạo như hình ảnh thu nhỏ của một làng quê được xây dựng và kiến tạo dưới lòng đất ở độ sâu từ 10 - 23m, có chiều dài hơn 1.700 mét đường hầm và một hệ thống giao thông hào chằng chịt được hình thành trong lòng đất đỏ bazan. Càng vào sâu trong địa đạo, không khí càng thêm mát lạnh trái hẳn với không gian chật hẹp và lối đi nhỏ phía ngoài.

< Cửa vào địa đạo được gia cố rất vững chắc.

Tại nhà trưng bày hình ảnh và tài liệu về khu di tích, người thuyết minh cung cấp cho khách du lịch những thông tin về địa đạo: Hệ thống địa đạo gồm có 3 tầng.

Tầng thứ nhất sâu 12 mét, là nơi sinh hoạt cho người dân; tầng thứ hai cách mặt đất 15 mét, được dùng làm nơi cất giữ lương thực và vũ khí hay hội họp và tầng cuối cùng sâu đến 23 mét, dùng làm nơi tránh bom. Ngay cả tầng sâu nhất, 23 m vẫn còn cao hơn mực nước biển đến 3 mét nên mọi sinh hoạt trong địa đạo vẫn diễn ra bình thường vào mùa mưa.

< Mặc dù trong lòng địa đạo rất gian khổ, thiếu thốn mọi bề, cuộc sống vẫn diễn ra; hai bên trục đường chính, cứ cách nhau từ ba đến năm mét lại khoét lõm sâu vào thành một hầm nhỏ, dùng làm nơi sinh hoạt của một gia đình từ ba đến bốn người ở. Ảnh: Tái hiện mô tả cảnh sinh hoạt của người dân làng Vịnh Mốc trong lòng địa đạo.

Toàn bộ hệ thống địa đạo Vịnh Mốc có 13 cửa thông ra ngoài; trong đó, có 7 cửa thông ra biển, 6 cửa thông lên đồi, mỗi cửa hầm được coi như một lỗ thông hơi. Đây chính là kết quả của chiến dịch “nhà nhà đào địa đạo” với 18.000 công lao động của nhân dân xã Vĩnh Thạch trong thời gian hơn 2 năm.

< Trong thời gian người dân Vĩnh Linh phải xuống sống trong các địa đạo, đã có 60 đứa trẻ được sinh ra trong lòng đất; riêng ở địa đạo Vịnh Mốc đã có 17 đứa trẻ ra đời.

Thật ngưỡng mộ khi nhìn thấy những hầm chỉ huy, phòng nghỉ, giếng nước, trạm gác, nhà bếp, nhà vệ sinh và nhiều lỗ thông hơi được bố trí một cách hợp lý, khoa học... nằm sâu trong lòng đất. Ngạc nhiên hơn cả khi được chứng kiến cảnh tái hiện sinh hoạt đời thường của người dân và thật sự xúc động khi chúng tôi bước vào khu bệnh xá, nhà hộ sinh - nơi đã có 17 đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời trong lửa đạn…

< Trong lòng địa đạo có ba giếng nước, một hội trường (với sức chứa 50 người), bệnh xá, nhà hộ sinh, trạm phẫu thuật, kho gạo, trạm đặt máy điện thoại... Trong ảnh, lối vào nhà tắm ngay trong địa đạo, một thiết kế hết sức độc đáo.

Đường ra khỏi hầm là các lối thông ra biển nên vừa bước ra, chúng tôi bắt gặp ngay biển Cửa Tùng. Bãi biển Cửa Tùng tựa lưng vào các làng chài của xã Vĩnh Thạch bốn mùa rợp bóng xanh mát rừng phi lao ngày đêm rì rào trong gió. Đứng ở mạn cát bên mép sóng Cửa Tùng, thấp thoáng trong tầm mắt chúng tôi, đảo Cồn Cỏ hiện ra sừng sững.

< Một cửa địa đạo thông ra bãi biển được ngụy trang ở dưới lớp cây xanh từ xa rất khó phát hiện.

Trong hành trình về với Vịnh Mốc, tuy thời gian lưu lại không nhiều nhưng đủ để chúng tôi hiểu về một địa đạo đầy những chiến tích lịch sử hào hùng. Địa đạo Vịnh Mốc đã được công nhận là di tích lịch sử Việt Nam. Khu bảo tàng địa đạo Vịnh Mốc chính thức mở cửa đón khách từ năm 1995, đến nay đã thu hút được một lượng du khách đông đảo.

Theo Thanh Ly (The Saigon Times)
Du lịch, GO!

Địa đạo Vĩnh Mốc và biển Cửa Tùng

Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2013

Thăm Vàm Nhựt Tảo

Tọa lạc tại Vàm Nhựt Tảo, xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, khu di tích Vàm Nhựt Tảo là nơi tái hiện cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực – người con ưu tú đất Long An trung dũng, kiên cường.

Xuất thân từ dân chài, giỏi võ, can đảm, tinh thần yêu nước nồng nàn là những yếu tố cần thiết để Nguyễn Trung Trực thành thủ lĩnh nghĩa quân, lập nên nhiều chiến công hiển hách thời kháng Pháp. Chiến đấu dưới quyền Trương Định, được sự giúp đỡ của hương chức làng Nhựt Tảo, Nguyễn Trung Trực táo bạo xây dựng kế hoạch, cùng 59 nghĩa quân tấn công, đánh chìm tiểu hạm L’Esperance trên sông Nhựt Tảo ngày 10/12/1861, làm nên:

Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa,
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.

Theo tác phẩm Abrégédel’histoire D’An Nam của Alfred Schreiner, trận Nhựt Tảo là khúc dạo đầu cho cuộc tổng công kích hầu như toàn bộ các đồn của Pháp… Là biến cố bi thảm đã gây nên một nỗi xúc động sâu sắc nơi người Pháp và kích thích một cách lạ lùng trí tưởng tượng của người An Nam.

Sau trận Nhựt Tảo, danh tiếng anh hùng Nguyễn Trung Trực vang dội khắp nơi, phạm vi hoạt động không ngừng mở rộng. Đầu năm 1867, ông nhậm chức Lãnh binh Bình Định, đến nửa năm sau, ông được thăng chức Thành thủ úy tỉnh Hà Tiên.

< Tàu Hy Vọng (Tiểu hạm Espérance) phục chế.

Sau khi Pháp tái chiếm Kiên Giang, ông cùng nghĩa quân ra đảo Phú Quốc tiếp tục kháng chiến. Lực lượng của ông hao mòn dần sau nhiều trận chiến không cân sức. Để bảo toàn lực lượng, chờ thời cơ, ông một mình ra mặt để Pháp bắt. Không lay chuyển được lòng dạ sắt son của ông, thực dân Pháp đem ông về Rạch Giá – Kiên Giang xử chém. Hy sinh ngày 27/10/1868 khi vừa tròn 30 tuổi, Nguyễn Trung Trực đã để lại cho đời câu nói bất hủ: Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây.


< Vàm Nhựt Tảo.

Năm 1996, Vàm Nhựt Tảo được xếp hạng là Di tích lịch sử cấp quốc gia, nơi ghi dấu một trong hai chiến công oanh liệt của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực trong thời kháng Pháp cuối thế kỷ XIX.

Hậu thế tri ân

Đến nay, cơ sở thờ tự anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực đã được xây dựng trên 6 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long: Kiên Giang, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Long An. Trong đó, khu di tích Vàm Nhựt Tảo là nơi lưu giữ, bảo tồn nhiều hình ảnh, tư liệu tái hiện cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của anh hùng Nguyễn Trung Trực.

< Mảnh ván tàu Espérance đang được trưng bày tại đền thờ chính, Rạch Giá.

Ngoài ra, nơi đây còn trưng bày một số ấn phẩm và công trình khoa học về ông như quyển Anh hùng kháng Pháp Nguyễn Trung Trực (Nguyễn Văn Khoa – NXB Trẻ TPHCM), Nguyễn Trung Trực – một kinh kha của miền Nam, Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ 1861 (NXB Phương Đông)…
Con cháu đời sau mến phục tấm kiên trung, bất khuất của bậc anh hùng, tôn thờ ông như một vị linh thần “sinh vi tướng, tử vi thần”.

Ngày nay, nếu xuôi dòng Vàm Cỏ Đông đến địa phận xã An Nhựt Tân, du khách sẽ được ngắm nhìn vùng sông nước hữu tình vàm Nhựt Tảo. Sông nơi đây khá rộng, dòng nước trong xanh, hai bên bờ là những mái nhà xinh xắn nép mình dưới rặng dừa nước và một số loài cây hoang dại như vẹt, bần, đước, mắm. Cách vàm 200m là chiếc cầu treo bắc qua sông Nhựt Tảo nối liền 2 xã An Nhựt Tân và Bình Trinh Đông.

< Mảnh ván tàu Espérance đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố HCM.

Những buổi bình minh đứng trên cầu treo nhìn ra vàm sông ta mới cảm nhận hết vẻ đẹp như tranh nơi đây. Sương tan là đà trên mặt sông dài như được nhuốm hồng bởi ánh bình minh, đó đây văng vẳng tiếng hò khoan dìu đặt của người dân chài lưới. Gần vàm là ngôi chợ khá lâu đời, hiện vẩn còn 2 dãy phố lợp ngói khá cổ kính. Đối diện chợ là trụ sở ủy ban nhân dân xã An Nhựt Tân. Khuôn viên ủy ban có bia kỷ niệm chiến thắng Nhựt Tảo được xây dựng năm 1980.

Nói chung dưới sự tác động của thiên nhiên và con người hơn một thế kỷ qua, di tích vàm Nhựt Tảo đã có sự thay đổi nhất định so với thời điểm xảy ra trận đánh ngày 10/12/1861. Tuy nhiên những gì còn hiện hữu ở vàm Nhựt Tảo cũng đã minh chứng tài năng quân sự của Nguyễn Trung Trực- người đầu tiên duy nhất đánh chìm được một tiểu hạm trong cuộc kháng chiến chống Pháp nửa cuối thế kỷ XIX.

Chiến thắng Nhựt Tảo cũng cho thấy rằng ta có thể đánh bại quân xâm lược bằng mưu trí và lòng dũng cảm dù chỉ được trang bị vũ khí thô sơ. Mặt khác ''trận hỏa hồng Nhựt Tảo'' chính là biểu tượng của tinh thần yêu nước, bất khuất trước ngoại xâm của nhân dân ta. Chính những người ''dân ấp, dân lân'' chỉ vì ''mến nghĩa'' mà đứng lên đánh Pháp đã làm nên chiến thắng vang dội Nhựt Tảo trong khi Triều đình Huế vì yếu hèn đã vội cầu hòa, cắt đứt một phần giang sơn gấm vóc cho quân xâm lược.

135 năm sau ngày Nguyễn Trung Trực đánh chìm tàu L' Espérance, vàm Nhựt Tảo đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích Quốc gia năm 1996 bởi những giá trị, ý nghĩa sâu sắc chứa đựng trong đó.

Năm 2003, một dự án tôn tạo di tích quy mô đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Long An phê duyệt và thực hiện với Khu di tích Vàm Nhựt Tảo, đưa vào sử dụng năm 2010, mỗi năm thu hút khoảng 10.000 lượt khách viếng thăm. Diện tích khu là 6.1 ha gồm các hạng mục chính: Đền Tưởng niệm, Nhà Trưng bày, Nhà bia, Tượng đài Nguyễn Trung Trực, đường nội bộ, bến thuyền, cầu cảnh,…

Hàng năm, khuôn viên Di tích Vàm Nhựt Tảo –  quê hương và là nơi ông đốt tiểu hạm L’Esperance của Pháp – diễn ra trọng thể lễ tưởng niệm anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Điều này thể hiện sự tri ân của mình đối với người có công với quê hương, đất nước, một nét đẹp trong văn hóa Việt cần được bảo tồn và phát huy hơn nữa.

Theo Baochi.edu.vn, CTTĐT Long An
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2013

Bảo tàng Đăk Lăk

Bảo tàng các dân tộc Đăk Lăk là bảo tàng lớn và hiện đại nhất của khu vực. Đây là một trong những điểm đến không thể bỏ qua trong hành trình đến với Tây Nguyên.

< Bảo tàng Đăk Lăk.

Được xây dựng ngay trên phần đất Biệt điện Bảo Đại – một di tích lịch sử của Đăk Lăk, Bảo tàng văn hóa các dân tộc Đăk Lăk là một công trình kiến trúc văn hóa được xây dựng theo phong cách hiện đại kết hợp với truyền thống văn hóa dân tộc đặc trưng của đồng bào Tây Nguyên - Biệt điện vừa có dáng nhà rông, lại có dáng nhà sàn của người Êđê hơn nữa lại có dáng nhà trệt của người M'Nông.

Cây trong khuôn viên Biệt Điện rất đa dạng về chủng loại và kích thước, là nơi duy nhất trong thành phố có nhiều cây nguyên sinh và cây cổ thụ với tuổi thọ hàng trăm năm như: long não, bằng lăng ối, châm mũi nhọn, sao đen...

Trong đó nổi bật nhất là hai cây long não đối xứng 2 bên cổng vào Biệt Điện với chu vi gốc trên 8m và tán lá bao trùm hơn 200m2. Đây có thể là một trong những cây long não lớn nhất Việt Nam.

Lịch sử hình thành tòa bảo tàng tóm lược như sau:

Năm 1926, Paul Giran-một công sứ pháp tại Đắk Lắk, đã cho xây dựng ngôi Biệt Điện này với gạch và vôi kiên cố và hoàn thành vào năm 1927. Từ đó dân địa phương gọi nơi này là Tòa công sứ. Tháng 11-1947 sau khi được chính phủ Pháp bảo lãnh, Vĩnh Thụy (Bảo Đại) về nước với danh nghĩa là Quốc trưởng. Bảo Đại đã đến đây và làm việc ở khu vực này khoảng 8 tháng (từ tháng 11-1947 đến khoảng tháng 5-1948).

Những năm 1949-1954 hàng năm Bảo Đại thường tới đây vào đầu mùa mưa để nghỉ ngơi và săn bắn. Do đó ngôi nhà này có tên gọi là Biệt Điện Bảo Đại. Và cũng từ đó đến nay cái tên Biệt Điện luôn được đi kèm với chức danh của toàn khu vực như Tòa Công sứ Biệt Điện (1951), Tòa tỉnh trưởng Biệt Điện (1955), nhà khách Biệt Điện v.v....

Từ 1955-1975, Biện Điện là nơi diễn ra các sự kiện quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ. Đến năm 1977, tòa nhà được sử dụng làm nhà khách và một phần làm bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam tại Đắk Lắk. Ban đầu Bảo tàng - một phần của Biệt Điện với hơn 500 hiện vật, tư liệu và hình ảnh về cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.

Năm 2008, tòa nhà mới của bảo tàng được xây dựng tại một vị trí khác cũng trong khuôn viên Biệt Điện này. Đây là công trình kiến trúc độc đáo theo phong cách hiện đại kết hợp với truyền thống các dân tộc Tây Nguyên, gồm 2 tầng với chiều dài khoảng 130m, rộng 65m, diện tích trên 9.200m2. Được trưng bày theo quan niệm bảo tàng học tiên tiến và phương pháp trưng bày hiện đại.

Ngày 27-5-1991 Hội đồng Khoa học của Bảo tàng Đắk Lắk đã họp và thống nhất lấy tên là "di tích lịch sử số 04 Nguyễn Du" là tên chính thức thay cho Bảo tàng Biệt Điện. Theo quyết định số 675/QĐUB NGÀY 26-4-1975 của UBND tỉnh Đắk Lắk, thì tháng 4-1996-nơi có ngôi nhà "đồ sộ" tên là Biệt Điện được giao cho Bảo tàng để trưng bày các sản phẩm văn hóa của dân tộc.

Bảo tàng Đắk Lắk được chính thức khánh thành trụ sở mới và đưa vào hoạt động từ ngày 21/11/2011. Các hiện vật, tư liệu, hình ảnh và các phóng sự sinh động về đời sống cư dân nơi được trưng bày tại bảo tàng mới - Ngôi nhà dài theo kiến trúc của người Êđê truyền thống. Bảo tàng Đăk Lăk cũng là bảo tàng đầu tiên trong cả nước sử dụng 4 ngôn ngữ là tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Ê Đê trong trưng bày, thuyết minh.

Trên tầng 2 của nhà bảo tàng bao gồm ba khu trưng bày chính:
- Khu giữa: Đa dạng sinh học. Không gian trưng bày hiện vật, hình ảnh về hệ sinh thái và thổ nhưỡng của Tây Nguyên.
- Khu bên trái: văn hóa dân tộc. Không gian trưng bày hiện vật, hình ảnh về đời sống, sinh hoạt của con người Tây Nguyên tiêu biểu là người Êđê bản địa ngoài ra còn các dân tộc bản địa khác và một số dân tộc nhập cư.
- Khu bên phải: Lịch sử. Không gian trưng bày hiện vật, hình ảnh về vật dụng của người cổ đại, vũ khí chiến đấu phục vụ trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Ngoài ra, còn các máy móc thiết bị phục vụ sản xuất đầu những năm hòa bình.

Ở đây trưng bày rất nhiều hiện vật, hình ảnh có giá trị. Bảo tàng là một không gian thu nhỏ của núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ với các loài động, thực vật; cây công nghiệp chủ lực của vùng và về văn hóa của 44 dân tộc cùng sinh sống tại Đắk Lắk, trong đó có không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và các tập quán sinh hoạt, làm việc, cùng các vấn đề liên quan đến bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện rõ nét. Hơn thế nữa Bảo tàng có trưng bày các vật khảo cổ, vật dụng, hình ảnh và tư liệu về 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ.

Không gian sinh học sống động là những bài học thiết thực trong bảo vệ môi trường và các loại động thực vật quý hiếm. Trong khi đó, lịch sử phát triển và truyền thống cách mạng lâu đời đã xây dựng nên niềm tự hào cho các dân tộc anh em. Sự ra đời của một bảo tàng quy mô như bảo tàng Đăk Lăk đã thay đổi cả những tập tục và nhận thức văn hóa của nhiều du khách đến với Tây Nguyên.

Du lịch, GO! tổng hợp

Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

Núi thơ Dục Thuý - Ninh Bình

Nổi tiếng với hơn 40 bài thơ khắc trên vách núi của các danh nhân, núi Non Nước nằm nghiêng mình bên sông... không chỉ là cảnh tiên nơi cõi tục mà còn là núi thơ với “thơ phú anh hoa đầy vách gấm” làm mê hồn du khách.
Đây là trường hợp rất hiếm vì không phải núi non nào được xếp loại danh thắng nhờ chuyện khắc thơ nhiều đến như vậy.

Núi Non Nước cao trên 100m ở Ninh Bình. Núi còn có tên cổ là Dục Thúy Sơn nghĩa là 'con chim chả' tắm bên dòng sông nước bạc. Núi nằm ở vị trí ngã ba sông, nơi giao giữa sông Vân với sông Đáy. Hàng trăm năm trước, chân núi bị sóng biển bào mòn, khoét thành một hõm sâu, từ xa nhìn lại, núi giống như một mái hiên hình vòm cuốn che rợp cả một khoảng sông xanh.

Vào đời Trần, Trương Hán Siêu tự là Thăng Phú, hiệu là Đôn Tẩu - người con của đất Ninh Bình đã khởi tạo nên bảo tàng thơ này, khai sinh ra truyền thống khắc thơ vào núi đá.

Bài thơ đầu tiên ông khắc vào vách núi có tên là Núi Dục Thuý ngợi ca vẻ đẹp của núi và khát vọng tha thiết muốn trở về với quê hương vì sự quyến rũ của phong cảnh Dục Thúy tươi đẹp: Non xanh xanh vẫn như xưa/ Du nhân đi mãi vẫn chưa thấy về!/Sóng in bóng tháp bồ-đề/Mở toang cửa động liền kề chân mây.

Kể từ sau bài thơ khắc núi của Trương Hán Siêu, nhiều người còn biết đến ngọn núi này như một ''núi thơ''.
Đến triều Lê, vua Thánh Tông khi ở Vĩnh Lăng (Thanh Hoá) trở ra, cũng dừng thuyền lên thăm núi Dục Thuý, cảm thán trước cảnh đẹp của thiên nhiên và những bài thơ trên vách núi, đã làm bài Đề núi Dục Thuý, cho khắc ở phía tây của ngọn núi nhô cao ở phía đông.

Vua Tự Đức triều Nguyễn đến thăm núi cũng đề thơ vào vách đá.

Có thể nói không một ngọn núi nào trên đất nước ta lại gắn với nhiều triều đại phong kiến Việt Nam như núi Dục Thuý. Nhiều tao nhân mặc khách mỗi khi đến nơi này đều đề thơ khắc núi. Cho đến nay, người ta đã tìm thấy trên dưới 40 bài thơ được khắc trên sườn Non Nước với nhiều thể loại khác nhau, nhiều nhất là loại thơ 4 chữ - tứ tuyệt, ngũ ngôn - năm chữ, tám câu - bát cú, thất ngôn - bảy chữ.

Những bài thơ đều thiên về tả cảnh, tả tình gửi gắm niềm tâm sự riêng tư, suy ngẫm về sự hưng vong và nhân tình thế thái…

Tác giả của những bài thơ nổi tiếng ấy thường là các bậc đế vương, các danh nhân đất nước như Lê Thánh Tông, Lê Hiền Tông, Phạm Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Nguyễn Du, Ngô Thi Sĩ…
Dục Thuý trở thành núi thơ, một tuyển tập thơ có một không hai ở đất nước ta chứa đựng những bài thơ hay trong bảy thế kỷ qua.

Bất luận thời gian, trải qua bao độ phong sương, mưa nắng của đất trời, những bài thơ chữ Hán, chữ Nôm, nét chữ to, nét chữ nhỏ, khắc trên vách núi vẫn còn in rõ như mới hôm qua. Những tác phẩm thơ khắc trên đá như những tác phẩm điêu khắc tạo hình hoàn chỉnh cho cái đẹp của núi, cuốn hút du khách lòng không muốn rời, chân không muốn bước để say trong cảnh núi sông tuyệt mỹ.

Đặt chân tới Dục Thuý Sơn là đến với bảo tàng thơ Hán Nôm - một bảo tàng thi ca của tạo hoá rất sống động và phong phú giữa đất trời.

Dục Thuý Sơn không chỉ là một thắng cảnh, một núi thơ mà còn là một cứ điểm quân sự lợi hại kiểm soát đường giao thông thuỷ bộ Bắc - Nam thời xưa. Do núi nằm ở vị trí trọng yếu kiểm soát đường giao thông thủy - bộ Bắc Nam nên tại đây đã diễn ra nhiều trận chiến ác liệt trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ gắn liền với tên tuổi của các chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi như Lương Văn Tụy, Giáp Văn Khương.

Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

Về nơi di tích lẫn trong di tích

(TTCT) - Dấu ấn mang phong cách Bình Định trên vùng đất hai vua nằm ngay quần thể di tích thành Hoàng Đế ở thị xã An Nhơn. Dấu tích xưa còn phảng phất trên những lối mòn lọc cọc xe ngựa, quanh đầm sen, trầm tích những ngôi chùa, ngọn tháp.

< Cổng chùa Thập Tháp.

Thế kỷ 10, Chiêm Thành chọn vùng đất này xây thành Đồ Bàn, đến khoảng thế kỷ 12 xây tháp Cánh Tiên. Thế kỷ 18 hoàng đế Nguyễn Nhạc chọn nền cũ Đồ Bàn xây thành Hoàng Đế. Xung quanh là quần thể tháp xưa cổ kính, đặc biệt là ngôi chùa Thập Tháp cách thành cũ khoảng vài trăm mét.

Di tích chen di tích

Tất cả đều là di tích quốc gia, di tích nằm trong di tích. Nhiều nhà khảo cổ học đến đây cũng ngỡ ngàng vì sự phong phú này. Khách đến đây như lạc vào những vết son sử hào hùng, chiêm bái thành tựu văn hóa cổ xưa để kính cẩn nghiêng mình, để niềm tự hào lan tỏa.

< Xe ngựa vẫn còn chạy trên kinh đô xưa.

Từ bến Xe Ngựa, du khách có thể ngồi trên chiếc xe ngựa lọc cọc, bồng bềnh bước vào một thời quá vãng để được nghe giai thoại về hạt lúa thần khổng lồ, về công chúa Huyền Trân, về chiến công lẫy lừng của các anh hùng sinh ra trên mảnh đất địa linh. Vẫn còn đó con đường làng quanh co dưới lũy tre cỗi già ông bà xưa dùng đánh giặc, giữ làng.

Tháp Cánh Tiên là sự hiện hữu một nét kiến trúc độc đáo nhất trong quần thể tháp Chăm. Có người nghi ngờ rằng đây là tháp Chế Mân xây riêng tặng công chúa Huyền Trân vì trong tháp có những hình chạm khắc công phu mang dáng dấp một mỹ nữ.

Vút lên trời cao ngọn tháp đứng trong một không gian thoáng đãng, cứ tưởng dang tay ra là ôm hết bầu trời. Không biết vị trí này đắc địa như thế nào mà trong nhiều thế kỷ, các vương quốc, các vị hoàng đế lại chọn xây thành kiên cố trị vì đất nước, nhiều thiền sư dừng chân trên đường truyền đạo.

< Điện bát giác tại thành Đồ Bàn.

Bình Định xưa nay được mệnh danh là đất võ - trời văn, kiến tạo văn hóa, quần tụ linh khí địa linh nhân kiệt thì nơi này chính là hạt nhân, nơi khởi nguồn của những khởi nguồn ở Bình Định.

Quần thể di tích chồng lấp lên nhau là lăng Võ Tánh được xây trên nền thành Hoàng Đế, thành Hoàng Đế thì lấy nền móng thành Đồ Bàn. Hiện các nhà khảo cổ đang khai quật và tìm thấy dấu vết của một tử cấm thành kinh đô xưa. Cổng lăng, song trung miếu, điện bát giác, hồ bán nguyệt, hậu cung... vẫn còn chứng giám trầm tích lịch sử một thời vang bóng.

Non nước hữu tình

< Tháp Cánh Tiên, di tích trong di tích thành Hoàng Đế.

Nếu du khách hiểu biết về lịch sử, về vương quốc Champa, về thời Tây Sơn, chùa chiền thì bước chân chắc chắn bị níu lại nhiều ngày. Có người cho rằng đây là nơi hội ngộ lịch sử. Đổi châu Ô và châu Rí lấy công chúa Huyền Trân và cuộc chiến với nhà Trần của Champa; cuộc chiến nhà Tây Sơn với hơn 20 vạn quân Thanh, Rạch Gầm - Xoài Mút với quân Xiêm và với nhà Nguyễn...

Đứng ở thành nhìn rõ tháp Cánh Tiên, đứng ở tháp Cánh Tiên nhìn thấy chùa Thập Tháp, đứng ở chùa Thập Tháp nhìn thấy núi Mò O. Nhìn từ phía chùa, núi Mò O (hay còn gọi là Thiên Bút, Ma Ha, Tiên Tỉnh Sơn, Mạ Thiên Sơn...) như một cánh buồm căng gió hướng ra biển Đông. Truyền thuyết kể rằng trên núi có nhiều mỏm đá giương ra phía Bắc hứng gió ngàn năm để biến thành kim cương nên được cho là nơi cuối cùng của long mạch, tiềm ẩn và phát tích đất đế vương.

Cảnh ở đây quá tuyệt nên có thơ: Rồng thiêng tiên cưỡi đi đâu/Cánh Tiên để đó dãi dầu nắng mưa/Cùng non tháp giữ tình xưa/Trải bao dâu bể vẫn chưa nao lòng/Đồ Bàn còn núi còn sông/Còn tiên kết cánh, còn rồng tuôn mây.

Lặng lẽ ngôi chùa Thập Tháp linh thiêng với kiến trúc hơn 340 năm vẫn âm vang theo tiếng chuông. Chùa gắn với câu chuyện hạt lúa khổng lồ, cứ đến mùa xuân, sau khi ruộng cày bừa xong lúa tự lăn ra đồng gieo hạt, đâm chồi trổ gié. Đến mùa hạ, người nông dân dọn dẹp sân sạch sẽ lúa tự lăn về. Mỗi hạt lúa dùng đủ no một tháng và chỉ dành cho người nghèo khổ.

< Làng sen Bả Canh bên cạnh tháp Cánh Tiên.

Chùa lồng lộng mát hơi nước sông Kôn lại rợp bóng cây cổ thụ hơn 200 năm tuổi và những báu vật như quả chuông đúc từ thế kỷ 19, câu đối của chúa Nguyễn Phúc Chu, 2.000 bản gỗ in kinh Di Đà...

Rợn ngợp trong không khí linh thiêng, hòa cùng non nước hữu tình, du khách có thể thả hồn mình ven con đường làng, qua những bàu sen để đến chùa Nhạn Sơn theo tiếng đồn linh thiêng của hai pho tượng Ông Đỏ - Ông Đen, đến nỗi đồn rằng ai có nỗi ưu phiền thế sự, xui xẻo khi chui qua Ông Đỏ - Ông Đen là mọi việc được xóa sạch...

Dấu vết xưa không chỉ còn ở di tích lịch sử mà du khách còn tha hồ thăm những làng nghề truyền thống duy trì bao đời xúm xít quanh kinh đô xưa. Từ làng gốm Vân Sơn, làng dệt, làng rèn Phương Danh, làng đúc đồng Bằng Châu, làng tiện gỗ, làng nón Gò Găng, nón ngựa Phú Gia và rất nhiều làng võ dọc sông Kôn cho thấy sự rộn ràng xe ngựa phồn hoa trên mảnh đất kinh kỳ.
Xem nguồn >

Theo Trường Đăng (Tuổi Trẻ Chủ Nhật)
Du lịch, GO!
 

Sample text

Sample Text

Sample Text

 
Blogger Templates