Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn Lễ hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lễ hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Lễ hội Lăng Ông Dung Ngọc Hầu

(TBKTSG) - "Nhớ về thăm lại Trà Ôn, tháng Giêng mùng 4 giỗ Ông Ngọc Hầu!” là lời nhắn nhủ mọi người dân khu vực nầy nhớ đến tham dự lễ hội Lăng Ông Tiền quân Thống chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn tại thị trấn Trà Ôn tỉnh Trà Vinh. Đây là lễ hội đầu năm duy nhất diễn ra ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

< Ao sen trước sân lăng Ông.

Lễ hội diễn ra liên tục trong ba ngày ba đêm, bắt đầu từ sáng mồng 2 tết Nguyên đán hằng năm. Phần lễ trang trọng với nghi thức cổ truyền. Phần hội rôm rả với nhiều hoạt động mang đậm bản sắc văn hóa dân gian, nổi bật nhất là cuộc thi gói bánh tét - đặc sản đặc sắc của đồng bào lưu vực sông Cửu Long.

Ngày tết Nguyên đán, dù thiếu vật thực nào cũng được người dân nơi đây bỏ qua, nhưng nhất thiết phải có những đòn bánh tét cúng rước ông bà đón xuân mới. Ngày hội gói bánh tét có sự tham gia của đông đảo bà con địa phương, đều là những người giỏi tay nghề, biễu diễn nghệ thuật ẩm thực cổ truyền của gia đình mình trước sự dự khán của khán giả mộ điệu.

< Múa trống sa-dăm là bộ môn nghệ thuật của đồng bào Khmer biểu diễn trong buổi cúng Ông.

Các cuộc thi đấu bóng chuyền, các trò chơi dân gian: kéo co, đẩy gậy, đá bóng mù... cũng thu hút đông đảo bà con. Không khí càng thêm sôi động, rôm rã với lễ hội dâng bông. Dâng bông là cổ tục đẹp dành dâng cúng rước thần linh tại các đình vào những ngày lễ kỳ yên trọng đại trong năm. Trong tiếng trống, tiếng kèn, tiếng thanh la, não bạt rền vang, các bà đồng trong trang phục rực sỡ, trang điểm đẹp, liên tục biểu diễn nghệ thuật uốn dẻo và giữ thăng bằng. Tài nghệ điêu luyện của họ đã hớp hồn tất cả mọi người dự khán. Không khí buổi lễ trở nên êm đềm vào buổi tối với các buổi biểu diễn đờn ca tài tử của các câu lạc bộ văn nghệ “cây nhà lá vườn”.

Người xem hòa lắng hồn mình trong tiếng nhạc, điệu kèn, lời ca trong cung bậc ngũ âm dặt dìu quyến rũ. Rồi các đoàn lân nhào lộn ngoạn mục, rộn ràng trong tiếng trống thúc giục lòng người. Thống chế Điều bát là người dân tộc Khmer nên có năm đoàn nghệ thuật Khmer địa phương biểu diễn các điệu múa dân gian như múa rô-băm, múa trống sa-dăm, hát dù-kê... Cũng như các buổi cúng đình khác, đoàn hát bội ngày nào cũng trình diễn các vở tuồng, như Thạch Kim kê đả hổ”, Ngọc kỳ lân xuất thế, Tiêu Anh Phụng, Đào Tam Xuân ... Tất cả thể hiện bản sắc văn hóa cộng đồng các dân tộc Việt, Hoa, Khmer một cách hài hòa, thể hiện lòng dân rất mực tôn kính.

< Cổng Lăng Ông ở thị trấn Trà Ôn vào ngày hội.

Nguyễn Văn Tồn, được vua nhà Nguyễn ban chức Thống chế Điều bát, người Trà Ôn tôn gọi là “Ông”, “Ông Lớn”, lăng gọi “Lăng Ông”. Khu lăng mộ Thống chế Điều bát được xây dựng năm Canh Thìn (Minh Mạng nguyên niên, 1820), rộng khoảng 8.000 m2, cách thị trấn Trà Ôn 2km với nhiều cổ thụ quý như sao, dầu, dương, da cùng các loại hoa kiểng tạo không khí mát trong, thanh thoát.

Từ ngoài nhìn vào, tam quan và hàng rào quanh lăng Ông được xây dựng năm 1963, phục dựng năm 1994. Hai bên cổng có cặp liễn đối: “Huân danh chiếu nhật tự cập thiên thu / Đức nghiệp sơn hà tình thương tứ hải”, tạm dịch: “Muôn đời công danh sáng chói truyền tụng / Sự nghiệp với non sông yêu thương bốn biển”. Bên trong khuôn viên có bức bình phong vẽ hình long hổ. Trước chánh điện là võ ca và cột cờ cao 10 mét treo cờ soái. Võ ca xây dựng năm 1953 bằng vật liệu nặng, có 4 cột tròn. Các đầu mái võ ca trang trí hình đồng tiền bằng sành; mái lợp ngói âm dương, bên trên có tượng lưỡng long tranh châu, cặp cá hóa long. Hai bên cửa võ ca đặt tượng hai kỳ lân oai dũng. Nổi bật là tấm hoành phi sơn son thếp vàng với bốn đại tự “Hộ quốc an dân”.

< Đoàn lân Lăng Ông trổ tài trước sự háo hức dự khán của bà con.

Chánh điện rộng khoảng 200 mét vuông, có tứ trụ nâng đỡ tạo thành mái hình bánh ít, xuyên câu. Mái lợp ngói âm dương. Đầu mái có hoa văn đồng tiền sành. Trên nóc có đôi rồng chầu nhật nguyệt. Có ba cửa vào chánh điện. Bên trên cửa chính có bảng khắc chữ nổi “Mỹ Thanh hội quán”. Hai bên cửa có cặp liễn đối diễn tả ý nghĩa Mỹ Thanh: “Mỹ đức tất hữu lâm châu liên bích hợp / Thanh lý an nghiệp ngọc túy kim hòa năng” (Đất Thiện Mỹ luôn tốt đẹp như viên ngọc / Giồng Thanh Bạch được an cư lạc nghiệp).

Giữa chánh điện là bệ thờ các vị: Tả quân Lê Văn Duyệt, Bình Tây Đại nguyên soái Trương Công Định và Hồ Chủ tịch. Hai bên là lỗ bộ bằng đồng sáng bóng. Sau bệ thờ này là hương án thờ Ông Thống chế Điều bát, gồm một khánh chạm trổ rất tinh xảo, một tráp gỗ sơn son thếp vàng đựng sắc phong, một chân dung Ông Dung Ngọc hầu Tiền quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn. Trên đầu khánh thờ là tấm bảng chữ vàng “Cung thánh chúc”, hai bên có 2 câu đối: “Vạn cổ uy danh lưu vương khí / Thiên thu linh tích kiều anh phong” (Vạn năm còn uy danh tốt / Muôn đời là vị anh hào).

< Bàn thờ Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn.

Phía sau chánh điện là lăng mộ Ông Bà Tiền quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn, song táng theo kiểu “càn khôn hiệp đức”, được xây dựng năm 1820 có kết cấu bằng vôi và ô dước, mật ong, đường. Mộ Ông cao hơn mộ Bà. Trước mộ có tấm bình phong với hai câu đối: “Hoa di cộng ngưỡng / Mân Quảng đồng tri ân” (Người Hoa, người Khmer đồng ngưỡng mộ / Người Việt, người Hoa đều nhớ ơn). Vòng thành bao quanh mộ được xây dựng năm 1960, trên có các búp sen, tượng cá hóa rồng, lân quy cùng nhiều hoa văn sắc sảo. Phu nhân Thống chế Điều bát được trọng vọng như vậy là vì lúc sinh thời đã giúp chồng nhiều công việc binh cơ và làm nhiều việc nghĩa đối với nhân dân trong vùng như xây dựng chùa, miếu, cấp gạo, thực phẩm cho dân nghèo... Công đức như vậy nên bà được vua Minh Mạng ban mỹ tự Hiền thục phu nhân Thống chế đại quan chi thần vào năm 1828...

Người Khmer mang họ Nguyễn

Dung Ngọc hầu Tiền quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn tên thật là Thạch Duồng, sanh năm Quý mùi (1763) tại làng Nguyệt Lãng, xã Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, dưới thời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Ông là người Khmer, có tướng mạo khôi ngô, võ nghệ cao cường, tính tình cương trực. Vì vậy, Ông được Nguyễn vương phong chức cho trấn thủ ở Oai Viễn đồn (Trà Ôn) và đạo Trấn Giang (Cần Thơ), kiêm quân xuất hai phủ Trà Vinh và Mân Thít. Binh đoàn của Ông chiến đấu dũng mãnh, xuất sắc.

< Mộ Ông Bà Tiền quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn, song táng theo kiểu “càn khôn hiệp đức” thời nhà Nguyễn.

Năm 1787, Ông theo chúa Nguyễn Ánh chạy sang Vọng Các (Bangkok, Thái Lan) tránh quân Tây Sơn. Năm sau, Ông trở về nước, theo Lê Văn Quân đánh Tây Sơn ở bảo Ba Lai. Khi chúa Nguyễn Ánh trở về nước, Ông được phân công trở về Trà Vinh, Mân Thít chiêu mộ dân binh, được giao quyền làm Nội thuộc Cai đội Thống quân, đóng đồn tại Cầu Kè, Trà Ôn, tiến hành khai khẩn đất hoang trồng trọt hoa màu.

Năm 1810, Cao Miên xảy ra nội chiến, quân Xiêm nhân cơ hội xâm lấn bờ cõi xứ nầy, Ông phụng lệnh triều đình theo đại quân Thoại Ngọc Hầu sang chiến đấu với quân Xiêm ở thành Lavek (Cao Miên). Thắng trận, uy danh Ông vang lừng và được ban ở lại trấn thủ thành Nam Vang với trọng trách bảo hộ xứ Cao Miên. Một thời gian sau, Ông được trở về trấn thủ Trà Ôn, Cầu Kè. Dịp nầy, Ông cùng dân binh ra sức khai hoang mở đất. Năm Gia Long thứ 10 (1811), Ông được triệu về kinh nhận ban thưởng và được thăng hàm Thống chế, tước Dung Ngọc hầu. Năm 1819, Ông được triều đình bổ vào chức Điều bát nhung vụ, dẫn một đoàn dân binh Khmer đến Châu Đốc để cùng Thoại Ngọc hầu, Tuyên Trung hầu lo việc đào kinh Vĩnh Tế dài trên 100 km. Đây là con kinh có vị thế chiến lược vô cùng quan trọng về kinh tế và quân sự ở biên giới Tây Nam đất nước... Do có công lao to lớn, Nguyễn Ánh ban cho Ông “tứ danh” Nguyễn Văn Tồn.

Do lao tâm lao lực với đất nước, với nhân dân, ngày mùng 4 tháng Giêng năm Canh thìn (1820), Tiền quân Nguyễn Văn Tồn bị bệnh mất tại Trà Ôn. Triều đình Huế phái đại thần mang phẩm vật vào làm lễ tế với nghi thức long trọng trong 3 ngày. Ông được triều đình sắc phong Thành hoàng Bổn cảnh Trung dũng Thiên trực. Nhân dân Trà Ôn vô cùng đau xót, thương tiếc, tôn kính Ông như một bậc tiền hiền có công khai hoang mở cõi mảnh đất nầy. Năm 1828, vua Minh Mạng sắc phong Ông là Trung đẳng thần, hàm ân Trung dũng Thiên trực, tước Dung Ngọc Hầu.

Lăng Ông đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào năm 1996. Hằng năm, cứ vào ngày mồng 2, mồng 3 và mồng 4 tháng Giêng âm lịch là lễ giỗ ông được tổ chức rất trọng thể, quy tụ hàng vạn người dân xa gần đến cúng bái. Đây là ngày hội trùng vào dịp đầu xuân, vừa mang ý nghĩa cầu phước, vừa mang ý nghĩa văn hóa truyền thống dân gian. Lễ giỗ với các nghi thức cổ truyền: túc yết, chánh tế, tế tiền hiền - hậu hiền, xây chầu, đại bội và hát bội, tỏ lòng nhớ công lao tiền nhân trong bước đường khai hoang mở đất, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, là đạo nghĩa của dân tộc ta.

Theo Cát Lộc - Cúc Tần (The Saigon Times)
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Tháng Giêng lên núi hành hương

(TTO) - Ông bà mình có câu “Lễ tiết quanh năm không bằng rằm tháng giêng”. Kết thúc công việc đồng áng làm ăn và sau khi ăn tết ở nhà, người dân miệt đồng bằng sông Cửu Long lại rủ nhau lên núi hành hương.

< Khách du xuân khám phá đỉnh Anh Vũ Sơn.

Bằng phương tiện cá nhân hoặc xe đò, họ lũ lượt đổ về núi Sam, núi Cấm hoặc các khu du lịch vùng Bảy Núi - An Giang để du xuân, vãng cảnh... Qua rằm tháng giêng vẫn “ngựa xe như nước áo quần như nêm”. Mấy bà, mấy chị ở gần nhà tôi năm nào cũng thuê xe du lịch đưa cả gia đình cùng bạn bè đi núi. Có năm họ dừng lại ở núi Sam (Châu Đốc), có năm đi thẳng lên lâm viên núi Cấm, núi Tô, đồi Tức Dụp, hoặc chợ Tịnh Biên.

< Khách hành hương đổ bộ lên núi Cấm.

Trong suốt hành trình, mọi người vừa tham quan thưởng ngoạn, vừa thưởng thức các món ngon vật lạ của núi rừng Tây Nam như nước thốt nốt tươi, cháo bò, lạp xưởng bò, bún cá, gà hấp lá trúc, mắm thái Châu Đốc và các loại bánh làm từ trái thốt nốt…

Xe dừng lại dưới chân núi, mọi người rộn ràng, tất bật, kẻ leo núi, người lên chùa, ai ai cũng cảm thấy lòng khoan khoái như bỏ lại sau lưng tất cả những tính toán lo âu để hòa mình vào không gian yên tịnh của núi rừng.

Mọi người đi núi trong tiết trời vào xuân để trao nhau ánh mắt nụ cười, để trải lòng mình cùng với trời đất bao la và tìm sự khuây khỏa. Họ đi từng đoàn, từng nhóm, đông đến nỗi các khu vực xung quanh chùa Phật Lớn, chùa Vạn Linh, tượng Phật Di Lặc không còn lối đi, đông nhất là từ mùng bảy đến rằm tháng giêng.

< Khách du xuân lên núi Ông Két vui chơi và thư giãn.

Mùa xuân trên núi Cấm, núi Ông Két, núi Tô thật đẹp, êm ả và thanh bình. Sáng sớm, trời se sắt lạnh, tới khoảng 9g nắng dần ấm lên, đất trời như bừng sáng, các loại hoa rừng đua nhau khoe sắc, khiến mùa xuân như kéo dài bất tận. Chính vẻ đẹp hoang sơ đó đã làm nên nét đặc trưng của vùng Bảy Núi.

Trên đường đi, nhiều người thích dừng lại nơi các quán võng để ngã lưng, tai lắng nghe tiếng suối róc rách phát ra từ trong tĩnh lặng khiến tâm hồn càng sảng khoái, nhẹ nhàng. Có đoàn còn mang theo cả “fast foot đồng bằng” để cùng nhau quây quần bên những gốc cây hoặc tảng đá mở tiệc và nhâm nhi chút rượu mừng xuân thật vui vẻ.


< Tháng giêng, bà con hành hương đông nhất tại các chùa miễu trên núi.

Hình như núi non có một sức hút kỳ lạ đối với người thành thị, nhất là người dân vùng sông nước. Dù trên núi thiếu mọi tiện nghi, nhà trọ sơ sài, quán ăn quán nước đơn sơ mộc mạc, chẳng có gì lôi cuốn, thế nhưng ai nấy cũng đều say mê thích thú như lạc vào một thế giới thần tiên đầy hoa thơm cỏ dại, không khí trong lành.

Đến đâu cũng có người mời vào nhà nằm võng, uống nước giống như thông điệp của một thế giới thân thiện, yên bình, hoàn toàn xa lạ với cảnh đua chen, vội vã của thị thành.

Đường lên núi quanh co, uốn lượn, nơi nào cũng đẹp, cũng tươi tắn, đặc biệt ở những vồ núi cao có sương mù bao phủ, có những thảm xanh như lụa ở điện Bồ Hong, Vồ Đầu (núi Cấm) dành riêng cho những người có sức khỏe, nhiều đức tin và tình yêu thiên nhiên.

< Khách du xuân xin xăm cầu phúc đầu năm.

Đến đó, nếu ở lại qua đêm, mọi người sẽ có dịp ngắm cảnh chiều hoàng hôn bãng lãng, lắng nghe tiếng gió đại ngàn mà quên hết mệt nhọc và lòng cảm thấy trống không sau một chuyến du xuân trở về.

Ngoài việc tham quan ngắm cảnh, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và phát huy những tình cảm cao đẹp, bạn bè trai gái hằng năm lên núi còn ghi lại biết bao mối tình tuyệt đẹp được đơm hoa kết trái từ những cuộc gặp gỡ đầu xuân. Thật không có gì thích thú và bổ ích bằng!

Gửi lại muộn phiền - mang về điều tốt lành

< Trước khi xuống núi, khách hành hương thắt gút cỏ cây như muốn gởi lại tất cả phiền não của năm cũ.

Trẩy hội mùa xuân trên vùng Bảy Núi là một tập tục truyền thống lâu đời vừa mang tính thế tục, vừa mang màu sắc tâm linh và hướng về cội nguồn, vì từ lâu núi Cấm đã từng được coi là “đỉnh non thiêng”. Trước khi xuống núi, nhiều người thường buộc thắt gút các ngọn cây, ngọn cỏ với tâm ý gởi lại tất cả những gì phiền muộn lo âu và chỉ mang về những niềm vui, hạnh phúc và điều tốt lành.
Mặc dù xin xăm bị coi là một hoạt động mê tín nhưng vẫn còn không ít người mỗi lần lên núi thường xin một thẻ xăm để biết được vận mạng của mình với hi vọng một năm mới an lành và thịnh vượng.

Theo Hoài Vũ (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Hát rối chùa Bi

(SGGP) - Bị quyến rũ bởi câu ngân nga của người xưa: Nhất vui là hội phủ Giầy/ Vui thì vui vậy, chẳng tày chùa Bi, tôi lặn lội về thành Nam. Thật thú vị, lại được chiêm ngưỡng một loại hình nghệ thuật độc đáo có sức sống gần 500 năm.

Độc nhất vô nhị

17 giờ, bà con làng trên xóm dưới đã đổ về đầy sân chùa. Mỗi người mỗi việc, người chuẩn bị lễ vật cúng thánh, phật, người lo quét dọn, người giăng đèn kết hoa, người bắc phông màn, trải chiếu, chuẩn bị trầu nước… Ai nấy tíu tít, hoan hỉ. Hôm nay phát tấu mà!

< Gác chuông chùa Bi.

Chùa Bi (còn gọi chùa Đại Bi) là ngôi chùa chung của 3 làng Vân Chàng, Giáp Ba và Giáp Tư, là một trong 4 ngôi chùa được xây dựng ở huyện Tây Chân (sau đổi thành Nam Chân) thuộc trấn Sơn Nam từ thời Lý (1010 - 1225), nay thuộc thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Chùa rộng 2.600m2 với hơn 60 gian, hầu hết bằng gỗ lim. Nhìn từ ngoài vào ta thấy chùa được nâng cao dần, kiến trúc hình chữ công (nội công, ngoại quốc), trông nguy nga đồ sộ. Hai dãy hành lang dài và thấp hai bên tả hữu càng tôn thêm vẻ đẹp của tháp chuông 2 tầng với 8 mái uốn cong mềm mại, tựa đóa sen đang nở.

Trong chùa lưu giữ nhiều cổ vật quý có từ thời hậu Lê: quả chuông cao hơn 2m, đỉnh đồng, khay, chén, đĩa… Một quần thể lăng mộ, am, tháp với kiến trúc đặc sắc; khung cảnh thiên nhiên trong lành, xanh tươi và khu chợ chùa tấp nập (ngoài việc đáp ứng nhu cầu giao thương hàng ngày của người dân quanh vùng; mùng 8 Tết, chợ còn họp phiên đặc biệt, dân quanh vùng mang đến đây từ nông cụ đến cây cảnh, đồ cổ… để buôn bán cầu may. Theo các bậc cao niên trong vùng, phiên chợ Viềng Nam Giang này ra đời trước và độc đáo hơn cả chợ Viềng phủ Giầy bên kia sông Đào) cũng tạo thêm nét duyên cho ngôi chùa cổ thanh tịnh và đã được Bộ VH-TT (cũ) xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa từ năm 1984.

Đại đức Thích Thanh Quyết, trụ trì chùa Bi, cho biết: Chùa thờ vị thánh tổ Từ Đạo Hạnh, con trai của ông Từ Vinh giữ chức đô sát đời vua Lý Nhân Tông. Từ Đạo Hạnh đã kết bạn với Không Lộ thiền sư ở chùa Không Lộ và Giác Hải thiền sư ở chùa Phúc Lâm. Ba người nghiên cứu pháp môn đà la ni và cùng nhau sang Tây Trúc (Ấn Độ) thỉnh kinh và được đức Phật tổ truyền cho tâm án, lục trí thần thông.

Để tưởng nhớ thánh tổ Từ Đạo Hạnh, vị thiền sư đã trụ trì ở chùa Bi, hàng năm, dân làng mở hội từ ngày 20 đến 24 tháng Giêng âm lịch. Trong suốt mấy ngày hội thường tổ chức tưng bừng rước kiệu, tế xuân và các trò vui chơi như đánh cờ, đấu vật, múa rồng, chạy đàn cầu an… Đặc biệt, suốt những đêm hội còn diễn ra các trò múa rối mà người địa phương quen gọi là trò hát rối hay ổi lỗi.

Đúng 19 giờ, trong tiếng chuông, trống, thanh la, mõ vang rộn, gần 20 ông lão mặc quần trắng, áo dài thâm, đội khăn lượt hoặc khăn xếp kính cẩn tiến vào hậu cung thắp hương, cúng lễ rồi mở hòm rước 12 đầu rối, gọi là thánh tượng, ra trước chánh điện. Trong làn hương thơm ngát của hương hoa, phẩm quả, các ông lần lượt xếp hàng trước tượng thiền sư Từ Đạo Hạnh, điều khiển những thánh tượng cúi đầu lạy thánh rồi tiến ra sân khấu. Sân khấu biểu diễn chỉ đơn giản là một bức rèm che cách điệu hình sóng nước được mắc vào hai cây cột giữa tiền đường trong chùa (gọi là dàn). Người múa rối, người hát, người gõ nhạc cụ đứng sau tấm màn, quay mặt về phía bàn thờ Phật và bàn thờ đức thánh Từ (thế nên mới gọi là múa rối hầu thánh).

Giáo trống rộn ràng báo hiệu đêm hát rối bắt đầu. Mỗi thôn có một bài giáo trống khác nhau, hay nhất là bài của thôn Giáp Ba. Rồi lần lượt đến mở hò, dâng cách, đọc kệ. Tiếp theo, 3 nhóm rối của từng làng (mỗi nhóm 10 người) ra hát chúc làng mình rồi cùng nhau đồng ca lời chúc mừng chung cho cả 3 làng, 3 xã được an lành, phú quý. Các bài hát có những âm điệu, giai điệu khác nhau nhưng đều hát vần ra theo nhịp 1/3 hoặc 2/7. Đặc biệt các lời đệm, lời đón đều dùng tiếng Nôm cổ, làm theo thể song thất lục bát hoặc lục bát: Là ôi là lễ lã lè lại là lèn; hồ la hồ hồ la la lải la lèn; là ôi là a a a ớ dô là vậy, là vậy hờ là là vậy; lê lê là… Nội dung của các bài hát đều mang ý nghĩa chúc phúc, ca ngợi quê hương đất nước tươi đẹp, ca ngợi những chiến công trong lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông xưa, nhắc nhở mọi người biết sống thủy chung, trọng lễ nghĩa…

Rối chùa Bi thuộc thể loại rối tay. Tượng làm bằng gỗ vàng tâm khoét rỗng, phủ sơn ta, với nét mặt được các nghệ nhân dân gian khắc họa khá kỹ lưỡng, thể hiện những tính cách khác nhau, được người dân gọi là thánh tượng. Bộ thánh tượng chùa Bi không chỉ có giá trị lịch sử, tâm linh mà còn giàu tính mỹ thuật, được đánh giá là bộ đầu rối đẹp nhất miền Bắc Việt Nam.

Nguy cơ mai một

Ông Đoàn Quanh (84 tuổi) tham gia phường rối từ năm 13 tuổi và giữ chân trùm phường (chánh trùm) suốt từ năm 1970 tới nay, cho biết: “Chính tên của trò này là hội tu kỳ lệ (răn đời bỏ ác làm thiện); sau này mới có thêm các tên là rối đầu gỗ, ổi lỗi, hát rối”. Căn cứ vào kinh văn (tức lời hát) có thể phỏng đoán trò ổi lỗi được kiện toàn hình thức và nội dung từ thời Lê sơ (cách đây khoảng hơn 450 năm).

Có bài ca ngợi về việc khôi phục đế đô, có bài ca ngợi đức vua (Lê), đức chúa (Trịnh). Còn lại, hầu hết bài ca có ý nghĩa giáo dục răn dạy đạo đức phong kiến tam cương, ngũ thường, đạo gia đình... Trong ca từ có rất nhiều lời cổ, ví dụ như hòa (chàng), nường (nàng), bường (bình)... Còn rất nhiều từ tối nghĩa (nghĩa cổ) các cụ hát được nhưng không hiểu...

“Rối đầu gỗ chùa Bi là một loại hình diễn xướng dân gian rất đặc sắc và độc nhất vô nhị trên đất nước ta. Ở chùa Cổ Lễ (Nam Định) thờ thiền sư Giác Hải còn giữ được một số đầu tượng rối giống như ở chùa Đại Bi nhưng kinh văn (lời hát) ở những nơi này đã mất và cũng không còn phường rối. Ở chùa Keo (Thái Bình) thờ thiền sư Không Lộ cũng có trò diễn bằng những đầu gỗ nhưng chỉ múa đơn thuần chứ không có các làn điệu hát phụ họa và nghệ thuật tạo hình các con trò cũng không đẹp mắt…”, GS-TS Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, nhận xét.

Nhưng từ hàng trăm năm nay, do gắn liền với lễ hội đậm màu sắc tín ngưỡng của chùa Bi nên chỉ được diễn vài ba lần mỗi năm vào những dịp hội xuân, giỗ thánh. Năm 2002, Bộ Văn hóa - Thông tin đã tài trợ kinh phí nghiên cứu và Viện Âm nhạc Việt Nam đã về chùa Bi ghi âm và quay lại toàn bộ chương trình biểu diễn của trò ổi lỗi để lưu giữ hình ảnh với mục đích bảo tồn. Nhưng nghiên cứu của viện cũng chỉ chú ý về mặt diễn xướng và âm nhạc, không tìm hiểu sâu về nguồn gốc và lý do của trò ổi lỗi.

Tại chùa Đại Bi đang lưu giữ 2 bộ tượng rối, một bộ được làm năm 1957 dùng để tập, bộ còn lại có niên đại cao, mang nhiều giá trị lịch sử nhưng chưa có phương án bảo quản hữu hiệu để chống mối mọt. Hiện nay nơi lưu giữ tượng nằm sau chính điện thờ, ẩm thấp và thiếu ánh sáng. Nhiều đầu rối đã bong sơn, gãy tay cầm. Muốn phục chế, các cụ cũng không biết tìm đâu ra nghệ nhân. Còn làm mới thì theo như ông Sòng cho biết, giá một đầu rối vào khoảng 15 triệu đồng. Hiện nay, Sở VH-TT-DL tỉnh Nam Định đang có kế hoạch ghi hình toàn bộ diễn trình, làm hồ sơ để trình Cục Di sản văn hóa công nhận rối đầu gỗ hầu thánh là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Năm 2009, lần đầu tiên trò ổi lỗi ra mắt công chúng ngoài không gian chùa Bi. 6 nghệ nhân đã đến Hà Nội trình diễn tại tọa đàm “Để di sản sống trong đời sống đương đại” trước các nhà nghiên cứu văn hóa. Lần thứ hai, rối đầu gỗ chùa Bi “xuất ngoại” là ngày 4-3-2012. Các nghệ nhân đã lên chùa Thầy (thôn Đa Phúc, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội) để trình diễn trong một cuộc hội thảo về thánh Từ Đạo Hạnh và tín ngưỡng dân gian.

Theo Đỗ Quang Tuấn Hoàng (Sàigòn Giải Phóng)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Chơi pháo đất ở đền Trần

(Infonet) - Trò chơi dân gian nặn pháo đất từ lâu trở thành một phần không thể thiếu trong Lễ hội đền Trần Thái Bình.
Với sự góp vui của hàng chục pháo thủ đến từ xã Chi Lăng, huyện Hưng Hà, họ đã mang lại cho du khách thập phương về trẩy hội những tiếng cười phấn khích.

Trò chơi pháo đất bắt nguồn theo tích xưa: Vào năm 1288 trong lúc quân ta đang đánh chiến ác liệt với giặc ở Bạch Đằng thì con voi của Trần Hưng Đạo bất ngờ bị sa vào vũng lầy ở bãi sông Hóa thuộc làng A Sào nay thuộc xã ( An Thái – Quỳnh Phụ). Dân quanh vùng thấy vậy liền hô hoán gọi nhau vác quốc xẻng ra đào đất, vác đất hỗ trợ cùng với quân lính ném đất xuống bãi lầy đế đắp đường cho voi lên bờ.

< Mỗi quả pháo đất thường nặng 30 – 40 kg.

Cũng theo các cụ cao niên trong làng cho biết, trò chơi pháo đất huyện Hưng Hà còn gắn liền với tích chuyện quai đê chống lũ lụt ngày xưa. Để tưởng nhớ vết tích của voi thần và vị tướng tài đức, người dân Thái Bình vào những ngày đầu xuân thường xuyên cùng nhau diễn lại màn tung đất cứu voi xưa. Thời gian nông nhàn họ cùng nhau ra ruộng lấy đất sét mang về nhà nhào nặn, rồi trổ tài bằng màn “ nặn pháo đất” như vậy.

Pháo đất có hình dạng giống như một chiếc thuyền. Nguyên liệu được làm bằng đất sét siêu mịn. Người dân nơi đây quan niệm, pháo đất chính là sự biểu tượng mang lại may mắn, một năm làm ăn thuận buồm xuôi gió.

Theo ông Tuấn, trưởng nhóm cho biết, để pháo đất có được những tiếng nổ vang và đanh thì người nặn phải làm theo đúng, đủ quy trình. Trong đó quan trọng nhất là bước nén pháo chặt.

< Để quả pháo hình thù một chiếc thuyền, người làm pháo cần phải sử dụng đến tấm tôn làm khuôn mẫu.

Cụ Nguyễn Mạnh Quân (70 tuổi) là thành viên cao tuổi nhất trong hội và cũng là người dày dặn kinh nghiệm, vừa làm cụ hào hứng chia sẻ: “ Năm nào tôi cũng tham gia, góp vui với hội thi pháo tại đền Trần. Ngày trước còn khỏe mạnh, phong độ vẫn luôn được giao trọng trách quan trọng là gieo pháo. Giờ thì tuổi cao sức yếu, chỉ trổ tài cùng anh em trong đội với những đường nặn dẻo dai vành pháo cơ bản này thôi ”.

< Chuẩn bĩ gieo pháo.

Người được giao trọng trách gieo pháo, phải là người có sức khỏe, dày dặn kinh nghiệm. Có như vậy người chơi mới mang lại được những tiếng nổ vui tai cho khán giả đứng hô hò xem.

< Giám khảo đo giềng pháo sau khi nổ.

Đội nào có giềng pháo dài nhất trong tổng các lần gieo sẽ là đội thắng cuộc. Theo ghi nhận của PV thì giềng phao cao nhất của các đội nỗ lực đạt được có chiều dài gần 3m.

Hội thi pháo đất cuốn hút đông đảo nhiều người đứng xem cổ vũ. Ai cũng muốn tận mắt ngắm những khung “ thuyền pháo” được tạo nặn ra từ đôi bàn tay khéo léo đa tài của thanh niên trai tráng hay các lão nông làm ăn kinh tế giỏi đang sinh sống và làm việc tại mảnh đất quê hương Hưng Hà.

Theo Thanh Tuyền (Infonet)
Du lịch, GO!

Lễ hội pháo đất Hải Dương

Hội Cổ Nhơn - thú chơi tao nhã ngày xuân

(PNO) - Vùng đất võ Bình Định luôn rộn ràng mỗi dịp xuân về, bởi nơi đây còn lưu giữ rất nhiều lễ hội truyền thống mừng xuân, như hội chợ Gò (Tuy Phước), hội đua thuyền, bài chòi, hội Đống Đa (Tây Sơn)… Trong đó, trò chơi dân gian, độc đáo Cổ Nhơn là thú vui tao nhã của người dân Bình Định dịp đầu xuân năm mới.

Gốc tích thú chơi Cổ Nhơn

Chưa có tài liệu sử sách nào ghi lại nguồn gốc xuất xứ của trò chơi Cổ Nhơn, những người chơi hội Cổ Nhơn đều nói trò chơi này đã có từ lâu, truyền qua nhiều đời.

Theo nhà nghiên cứu Đặng Quý Dịch, trò chơi Cổ Nhơn xuất phát từ thời nhà Nguyễn, du nhập vào Bình Định. Qua thời gian, Cổ Nhơn ở Bình Định có nhiều thay đổi, phát triển và thành món ăn tinh thần của người dân nhiều vùng ở địa phương này. Trò chơi có một ban tổ chức, gọi là Hội xổ Cổ Nhơn. Hội này chịu trách nhiệm ra đề, thu tịch và sẽ chung tiền cho những người giải đáp chính xác. Tỷ lệ chiến thắng 1 đồng nhận 25 đồng.

Tịch của trò chơi này gồm 36 con vật, dùng để ghi số tiền mà người chơi mua. 36 con trong bảng Cổ Nhơn được chia thành 9 nhóm: Tứ trạng nguyên: cá trắng, ốc, ngỗng, công; Ngũ hổ tướng: trùn, cọp, heo, thỏ, trâu; Thất sinh lý: rồng bay, chó, ngựa, voi, mèo, chuột, ong; Nhị đạo sĩ: hạt, kỳ lân; Tứ mỹ nữ: bướm, hòn đá, én, cu; Tứ hảo mạng: khỉ, ếch, quạ, rồng nằm; Tứ Hòa Thượng: rùa, gà, lươn, cá đỏ; Ngũ khất thực: tôm, rắn, nhện, nai, dê; Nhất ni cô: con yêu.

Mỗi ngày 2 - 3 lần, BTC sẽ chọn một trong 36 con trong bộ tịch bỏ vào hộp gỗ niêm phong làm đề. Hộp gỗ chứa đề sẽ được trên lên cây nêu cao khoảng 5m ở các trụ sở thôn, xã… Dưới cây nêu có lực lượng canh gác, giữ đề không bị lộ.

Sau khi treo đề, để người chơi luận Cổ Nhơn, BTC sẽ đưa ra đề (câu thai) gồm 4 câu thơ lục bát ứng với đề. Phần luận câu thai để tìm ra đáp án chính là phần sôi nổi nhất của ngày hội Cổ Nhơn. Mỗi câu thai đều là danh lam thắng cảnh, nội dung văn học, sách sử, điển tích điển cố… người chơi dựa vào ý nghĩa của mỗi câu thai để đàm luận. Cổ Nhơn ý vị ở chỗ, người chơi phải thực giỏi, luận đề hay… tuy nhiên chưa hẳn người giỏi chữ nghĩa, luận đề hay là người thắng. Người đoán bừa chưa chắc đã thua. Bởi người ta thường nói, văn chương chữ nghĩa có nhiều lời giải, luận bàn khác nhau, và mỗi người đều tìm ra cái lý của mình.

Khi thắng được câu đề, không quan trọng ở khoản tiền ăn thua mà người chơi hãnh diện bởi khả năng, suy luận của bản thân.

Cổ Nhơn nơi đất Võ

Ở Bình Định, hội Cổ Nhơn nức tiếng nhất đất Hoài Nhơn. Mỗi dịp xuân, khắp thôn, xã ở huyện Hoài Nhơn rộn ràng, háo hức chờ hội Cổ Nhơn. 30 tết (tháng thiếu 29), Cổ Nhơn khai hội và có thể kéo dài đến mồng 5, mồng 6 tùy nơi. Thế nhưng từ độ 25 tháng Chạp, ở Hoài Nhơn đã sôi nổi, bàn luận, chờ đợi một mùa Cổ Nhơn đến. Trong gần 10 năm trở lại đây, Cổ Nhơn trên đất Hoài Nhơn lan tỏa sâu rộng, đến mọi ngóc ngách ở các vùng quê trong huyện. Cổ Nhơn là dịp để những người con xa quê hội ngộ, ngồi bên tách cà phê luận đàm câu thai, tìm lời giải đáp.

Hội Cổ Nhơn ở Hoài Nhơn chơi theo cách thức truyền thống, bộ tịch 36 con và câu thai là 4 câu thơ lục bát. Mỗi ngày hai lần vào lúc 6 giờ sáng và 14 giờ chiều, BTC sẽ chọn môt trong số 36 con trong bộ tịch treo lên cây nêu. Đến 12 giờ trưa và 18 giờ tối, Cổ Nhơn xổ đề trong niềm hân hoan, chờ đợi của hàng trăm người chơi.

Riêng ở TX An Nhơn (Bình Định), hội Cổ Nhơn biến thể hơn. Cách chơi không thay đổi, nhưng sẽ có sự thay đổi trong bộ tịch và câu thai. Bộ tịch ở đây không là 36 con mà 40 con, 4 con được thần. Câu thai không là 4 câu thơ lục bát mà được rút lại thành hai câu thơ lục bát.

Ông Nguyễn Đức Minh (64 tuổi), người 30 năm ghi Cổ Nhơn (P. Bình Định, TX An Nhơn), nói: “Cổ truyền bộ tịch Cổ Nhơn chỉ 36 con, về sau BTC thêm vào bộ thần thành 40 con. Một trò chơi dân gian có từ rất lâu, Cổ Nhơn thiên về chơi xuân, giải trí hơn thắng thua. Người thua cũng vui mà người thắng lại càng vui. Ghi Cổ Nhơn được sự cho phép của chính quyền, BTC Cổ Nhơn hàng năm tổ chức để mọi người vui xuân”.

Thực ra Cổ Nhơn khó cũng khó, mà dễ cũng thực dễ… Người chơi nhìn vào từng câu thơ để giải nghĩa. Ví dụ: “Nhớ ngày kỉ niệm Đống Đa/ Chiến công oanh liệt, vẻ vang nước nhà” là một câu thai được ra trong ngày kỉ niệm chiến thắng Đống Đa (4 -5/1 âm lịch). Câu thai này tương ứng với đáp án là “Thần Tài”. Bởi kỷ niệm Đống Đa là để tướng nhớ vua Quang Trung và các Văn thần Võ tướng tài giỏi của nhà Tây Sơn. Vua Quang Trung, vị vua tài giỏi, xuất chúng… người giỏi xuất chúng được mệnh danh là thần, và có tài nên đáp án ứng với “Thần Tài””.

Cổ Nhơn ở An Nhơn được tổ chức ở 3 địa điểm, P. Bình Định, xã Nhơn Phong và Nhơn Hạnh. Mỗi ngày, Cổ Nhơn xổ hội 3 lần tương ứng với 3 lần chơi. “Cổ Nhơn chỉ còn tổ chức ngày cuối cùng (6.1 AL), nhưng chúng tôi cứ thấy tiếc. Phải chờ một năm nữa mới lại được xem hội Cổ Nhơn quê mình. Đi xa, nhớ tết nhớ nhà và nhớ cả câu đề Cổ Nhơn…”, anh Phạm Mười, người chơi Cổ Nhơn chia sẻ.

Theo Dịu Dịu (báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Miền Trung khai hội Cầu Ngư

(VnExpress) - Cứ vào tháng Giêng, nhiều làng chài tại các địa phương lại tưng bừng tổ chức ngày hội Cầu Ngư với mong muốn một năm trời yên biển lặng, tôm cá đầy khoang.

Lễ hội Cầu Ngư, thờ cúng Cá Ông là một nét văn hóa dân gian tiêu biểu của ngư dân chài lưới ven biển miền Trung. Tục thờ Cá Ông (cái voi) đã tồn tại lâu đời nay, trong dân gian, cá voi là một loài cá thần, thường giúp họ vượt qua tai nạn khi lênh đênh trên biển cả, “Ông” là tiếng gọi tôn kính của ngư dân dành riêng cho cá này. Hàng năm, thường là sau khi ăn Tết xong, ngư dân tổ chức lễ tế Cá Ông lồng ghép dưới hình thức lễ hội Cầu Ngư và lễ ra quân đánh bắt vụ cá Nam.

Tại Huế, lễ hội cầu ngư làng Thai Dương (huyện Phú Vang) được diễn ra vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch. Lễ hội năm nay được tổ chức lớn vì theo truyền thống của làng là “tam niên đáo lệ”, tức sau ba năm mở hội lớn vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu.

Lễ hội cầu ngư làng Thai Dương có từ hơn 500 năm trước, được tổ chức với mong muốn cầu mưa thuận gió hòa, mọi nhà làm ăn phát đạt, đồng thời, bày tỏ lòng nhớ ơn vị khai canh làng là Trương Quý Công.

Cùng chung không khí đó, lễ hội Cầu Ngư Đà Nẵng đã diễn ra vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch với nhiều hoạt động sôi nổi.

Ông Nguyễn Đăng Dương (Thanh Khê Tây, Đà Nẵng), một trong những người tham gia lễ bái chính cho biết: “Cầu Ngư là lễ hội lớn của ngư dân Đà Nẵng, vào ngày này hàng năm, mọi người cùng tổ chức lễ cúng để cầu mong một năm trời yên biển lặng, mùa màng bội thu”.

Lễ hội thường được diễn ra trong hai ngày. Vào ngày lễ chính, làng chọn ra một ban nghi lễ gồm các cụ cao niên, hiền đức, có uy tín với bạn chài và không bị mắc tang chế. Vị chánh bái dâng đồ tế lễ và đọc văn tế nói lên lòng biết ơn của dân làng đối với công đức Cá Ông và cầu mong mùa đánh bắt bội thu, thuyền bè đi khơi về lộng an toàn.

Hình thức múa hát đặc trưng của lễ hội Cầu Ngư là múa hát bả trạo (bả: nắm, trạo: chèo đò) diễn tả tinh thần đoàn kết giữa các thành viên trong một con thuyền, vượt qua sóng to gió cả, mang về một mùa bội thu cho ngư dân. Hát múa bả trạo, vừa là nghi thức tế lễ, vừa là hoạt động nghệ thuật.

Bên cạnh các nghi lễ còn có phần hội. Mỗi địa phương có những hình thức tổ chức khác nhau nhưng chung lại đều có những trò chơi dân gian vùng biển như: lắc thúng, đua thuyền, bơi lội, kéo co, đá bóng, thi đan lưới, … Các đêm văn nghệ cũng được tổ chức phục vụ bà con xem hát tuồng, hát hò khoan, hát bài chòi, hát bội.

Ngoài tháng giêng, lễ hội Cầu Ngư còn được tổ chức tại các địa phương vào tháng tư âm lịch như tại Cù Lao Chàm (Quảng Nam) vào ngày mồng 3. Đối với các tỉnh Phan Thiết, Bình Thuận, Khánh Hòa thì lễ hội thường diễn ra vào tháng 6 âm lịch.

Lễ hội cúng Cá Ông có vị trí đặc biệt trong đời sống tâm linh và tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân. Theo truyền thuyết, cá Ông vốn hóa thân từ những mảnh áo cà sa của Phật Bà Quan Âm quăng xuống biển để cứu vớt sinh linh bị chìm đắm. Từ đó, người dân luôn tin rằng cá Ông là vị thần luôn phò trợ, giúp sức cho người đi biển.

Nhiều đời vua nhà Nguyễn đã ban sắc phong tặng cá voi là “Nam Hải cự tộc Ngọc Lân tôn Thần”, ban sắc phong cho thần Nam Hải, chính thức công nhận tục thờ cúng Cá Ông tại các làng quê dọc ven biển miền Trung.

Lễ hội Cầu Ngư không chỉ là môt phong tục tập quán mà còn lưu giữ tín ngưỡng dân gian mang nét đẹp văn hóa, tôn giáo của ngư dân Việt Nam. Lễ hội thể hiện ý thức "uống nước nhớ nguồn", tưởng nhớ công đức của các vị tiền hiền, có công lập làng, dựng nghề. Thông qua lễ hội thắt chặt thêm tình đoàn kết gắn bó giữa các ngư dân làng chài ven biển.

Theo Thùy Trang (VnExpress)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Kiệu chúa bổ nhào trong hội rước vua

Khi đang được rước từ đền về đình làng ở Đông Anh, kiệu chở chúa đã lật đổ xuống đường. Rất may, do được buộc bảo hiểm chặt nên cụ ông 70 tuổi không bị rơi ra ngoài.

Lễ hội đền Sái ở thôn Thụy Lôi, xã Thụy Lâm (Đông Anh, Hà Nội) diễn ra lúc 13h ngày 11/1 âm lịch nổi bật với nghi lễ rước vua, chúa giả. Tích xưa kể rằng, sau nhiều lần xây thành Cổ Loa không xong, vua Thục Phán An Dương Vương được thần Huyền Thiên Trấn Vũ giúp diệt trừ yêu tinh, xây được thành. Để tạc ghi công đức của thần, nhà vua cho xây dựng đền Sái, thờ thần Trấn Vũ và hàng năm, vào đầu xuân, nhà vua lại đích thân xa giá về bái yết tại đền.

< Hàng năm vào ngày này, người dân trong làng lại tưởng nhớ sự tích An Dương Vương xây thành Cổ Loa, được các tiên nữ đêm đêm xuống trần gánh đất đắp hộ nhưng thần ma gà tác yêu giả tiếng gà gáy sáng làm các tiên cô bỏ cuộc bay về trời, nên đắp mãi chưa xong thành.

Về sau, do đi lại khó khăn và tốn kém, nhà vua ban chiếu cho làng Thụỵ Lôi thực hành nghi lễ này. Từ đó xuất hiện lễ hội “Rước vua giả” - còn gọi là lễ rước vua sống - ở đền Sái. Từ đó đến nay, cứ đến ngày 11 tháng Giêng có lễ hội rước Vua (lễ hội đền Sái) với sự tham gia của đông đảo dân làng và du khách thập phương.

< Nhờ được thần Huyền Thiên Trấn Vũ ra tay diệt được ma gà trắng núp ở Thất Diệu Sơn nên vua Thục mới xây xong thành Cổ Loa. Thần Trấn Vũ được thờ trên núi Sái của Thất Diệu Sơn. Vua, chúa nhiều đời sau từng về đây bái yết, nhưng thấy việc đi lại làm hao phí tiền bạc, công sức của nhân dân nên vua ban chiếu cho dân làng làm nghi lễ rước vua giả.

< Và từ đó đến nay vào mỗi dịp ăn Tết xong, cả làng lại rộn rã tổ chức hội. Bắt đầu từ 13h, lễ khênh kiệu từ đền Sái về đình làng với màn quay kiệu khí thế, vui nhộn. Đám rước kiệu đi trong tiếng nhạc của phường bát âm và tiếng chiêng trống vang dội.

< Chúa được vẽ mặt đỏ để phân biệt với vua, cả hai ngồi trên kiệu buộc bảo hiểm chặt nhưng cũng phải hãi hùng mỗi khi đám trai làng dô và quay kiệu nghiêng ngả.

< Khi kiệu về gần đến đình làng, pha lúng túng vấp chân của một thanh niên khênh kiệu đi đầu đã kéo theo hàng loạt người phía sau ngã theo khiến chiếc kiệu lật nhào.

< Chàng trai ngã bật ra xa 2 mét, may mắn người đóng vai chúa không bị chấn thương do đã được buộc chặt.

< Người được đóng vai chúa (hay còn gọi là Thanh Trang) năm Giáp Ngọ là cụ Lê Quang Hân (70 tuổi). Đây là một trong hai lão ông cao niên trong làng được tuyển chọn kỹ lưỡng (phải từ 70 tuổi trở lên, con cháu đuề huề hạnh phúc, đầy đủ nội ngoại, gia đình văn hoá).

< Còn vua là cụ Trần Văn Chương (72 tuổi). Thỉnh thoảng vua đứng hẳn lên kiệu khua kiếm náo động đường làng.

< Ngoài ra còn có bốn vị "quan tứ trụ triều đình", quan Thị vệ, quan Tán Lý, quan Đề lĩnh và quan Trấn thủ (trên 60 tuổi) được ngồi võng cho 'lính' rước.

< Trẻ em cũng được tham gia đóng vai quân lính tại lễ hội này.

Theo Zing
Du lịch, GO!

 

Sample text

Sample Text

Sample Text

 
Blogger Templates